Phân tích truyện Tấm Cám

Tấm Cám là truyện cổ tích nổi tiếng của Việt Nam. Tấm Cám không chỉ mang đến một câu chuyện hấp dẫn về cuộc đời, hành trình đến hạnh phúc của Tấm mà qua đó còn gửi gắm nhiều bài học sâu sắc. Bài phân tích truyện Tấm Cám sẽ cùng các em tìm hiểu về những đặc sắc nội dung và bài học được gửi gắm trong câu chuyện này.

Đề bài: Hãy Phân tích truyện Tấm Cám

Mục Lục bài viết:
1. Bài mẫu số 1
2. Bài mẫu số 2
3. Bài mẫu số 3
4. Kể lại truyện Tấm Cám theo lời của nhân vật Tấm
5. Phân tích mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám trong Tấm Cám
6. Suy nghĩ về con đường để đi đến hạnh phúc trong cuộc sống từ truyện Tấm Cám
7. Phân tích cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của Tấm trong truyện Tấm Cám

phan tich truyen tam cam

3 bài văn mẫu Phân tích truyện Tấm Cám

 

Bài mẫu số 1: Phân tích truyện Tấm Cám

Truyện Tấm Cám gồm nhiều nhân vật, chia làm hai hạng người: tốt và xấu, hay thiện và ác. Tấm tiêu biểu cho người tốt, người thiện; Cám và mẹ Cám đại diện cho kẻ xấu, kẻ ác. Người tốt thì siêng năng, hiền lành, thật bụng tin người, chỉ mong được sống hạnh phúc. Kẻ xấu thi lười biếng, dối trá, tham lam, ganh ghét, tàn ác, hại người, chỉ cốt cho riêng mình được sung sướng. Kẻ xấu tìm hết cách để làm hại người tốt. Người tốt chẳng cam chịu một bề mà cố sức vươn lên, chống lại và cuối cùng chiến thắng. Như vậy là ước mơ công bằng, ước mơ hạnh phúc của nhân dân đã được thực hiện.

Xét ở ý nghĩa sâu hơn thì mẹ con Cám đại diện cho tầng lớp áp bức bóc lột trong xã hội, còn Tấm là người bị áp bức. Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám thực chất là mâu thuẫn giữa người lao động và kẻ bóc lột, giữa thật thà và gian trá, thiện và ác. Người bị áp bức phải chịu muôn vàn khốn khổ, nhưng nếu kiên trì đấu tranh thì sẽ chiến thắng và sẽ được sống hạnh phúc. Còn kẻ áp bức bóc lột nhất định phải bị trừng phạt đích đáng. Quy luật của công lí nhân dân thời xưa là vậy.

Truyện chia làm hai phần. Phần một kể về thân phận của Tấm (cô gái mồ côi) và con đường đến với hạnh phúc của cô. Phần hai kể về cuộc đấu tranh gian nan, quyết liệt để giành và giữ hạnh phúc của Tấm. cả hai phần đều thể hiện mơ ước "Ở hiển gặp lành" và triết lí về hạnh phúc của người lao động.

Tấm mổ côi mẹ từ khi còn bé. Cha lấy vợ kế, dì ghẻ sinh được một đứa con gái đặt tên là Cám. Sau đó mấy năm thì cha cũng mất, Tấm ở với dì ghẻ. Quan hệ dì ghẻ con chồng chia người trong nhà thành hai hạng. Mẹ con Cám là hạng người áp bức, Tấm là hạng người bị áp bức. Chuyện trong gia đình nhưng chính là chuyện phổ biến trong xã hội đầy bất công thuở ấy.

Phần một của truyện kể vể thân phận bất hạnh và con đường đến với hạnh phúc của cô gái mồ côi là Tấm.

Một hôm, dì ghẻ bảo Tấm và Cám đi bắt tép và hứa ai bắt được nhiều dì sẽ thưởng cho cái yếm đỏ. Tấm bắt được nhiều, Cám bắt được ít. Nếu thể thì hai chị em chỉ mới khác nhau có một điểm là đứa siêng, đứa lười. Nhưng không chỉ có vậy. Thói thường, đứa lười nhác lại hay kèm theo xấu bụng, dối trá, ranh ma. Cho nên Cám mới giả vờ thương chị, bảo chị xuống sông gội dầu cho sạch tóc. Kì thực, Cám lừa Tấm để trút hết giỏ tép của Tấm vào giỏ mình, rồi mang về trước. Truyện không kể nhưng chắc chắn Cám được mẹ nó khen và cái yếm đỏ nếu có thật sẽ thuộc về phần nó và tất nhiên là Tấm sẽ bị mụ dì ghẻ mắng mỏ, đánh đập. Đứa lười nhác cướp công của đứa chăm làm. Kẻ vất vả chẳng được hưởng gì, kẻ không làm lại được hưởng tất cả. Số phận người lao động trong xã hội bóc lột thường là như vậy.

Còn cái yếm đỏ, tại sao mụ dì ghẻ lại hứa cho Tấm và Cám phần thưởng đó? Bỗng dưng mụ tốt bụng chăng? Chẳng phải vậy mà mụ biết rằng con gái mới lớn ai cũng coi cái yếm, nhất là yếm đỏ như một thứ trang sức kín đáo làm tôn thêm vẻ đẹp của người thiếu nữ. Tâm lí ấy cũng có ở Tấm, cho nên mụ dùng chiếc yếm đỏ như miếng mồi nhừ để khai thác sức lao động của Tấm. Quả nhiên, Tấm bắt được nhiều tôm tép và mụ được hưởng tất cả mà chẳng phải mất chút gì. Như thế là mụ đã mắc tội bóc lột và lừa phỉnh đối với người lao động.

Từ trước đến giờ, Tấm có ai là bạn đâu ? Cám là em cùng cha khác mẹ nhưng nó chỉ chực hại chị. Cái câu: Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về đì mắng thoạt nghe rất ân cần nhưng hóa ra là lời cạm bẫy. Tấm bị Cám lừa trút hết tép, may mà còn sót con bống nhỏ. Bụt bảo Tấm nuôi bống là để giúp cho Tấm có được một người bạn. Bống lặn sâu dưới giếng để không ai thấy và chi hiện lên với Tấm mà thôi. Ngày ngày, Tấm giấu cơm trong thùng gánh nước để nuôi bống. Câu hát Tấm dành riêng cho bống thân thương, ngọt ngào biết mấy: Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người. Cơm nhà ta lấy gì mà thành cơm vàng cơm bạc, mà khác với cơm hẩm cháo hoa nhà người nếu không có thêm tình thương yêu? Nghe lời hát ấy, bống nổi lên ngay, đón lấy tình thương của Tấm và Tấm gửi tình thương vào bống. Cô gái côi cút lủi thủi một mình nay đã cố một người bạn để chia sẻ nỗi niềm cho đỡ tủi thân.

Nhưng mụ dì ghẻ và con Cám không để Tấm yên. Tội ác thường không biết dừng. Mẹ con nhà nó lập mưu hại bống. Dì ghẻ ra lệnh cho Tấm bằng lời khuyên nhủ cố làm ra vẻ ngọt ngào: Con ơi con! Mai đi chăn trâu phải chăn đồng xa. Chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu. Lừa Tấm đi xa để ở nhà chúng dễ dàng thi hành kế độc. Chúng bắt bống làm thịt. Con bống bé xíu, mẹ con chúng ăn chưa đủ bữa cơm, nhưng đối với Tấm, bống là niềm an ủi, là người bạn thân thiết. Mẹ con con Cám giết bống khác gì giết nửa người Tấm.

Lũ bóc lột không chỉ bóc lột sức lao động mà còn muốn hãm hại Tấm cả về mặt tình thần. Tội ác của chúng ngày càng ghê gớm. Cục máu đỏ tươi nổi trên mặt nước chính là lời nguyền rủa đổi với tội ác ấy.

Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ mẹ con con Cám. Mâu thuẫn giữa Tấm với dì ghẻ thực chất là mâu thuẫn thiện - ác. Cái ác hiện hình qua các hành động tàn nhẫn của hai mẹ con con cám: lừa gạt trút mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ bé nhỏ của Tấm là có được cái yếm đào; lén lút giết chết con bống người bạn bé nhỏ của Tấm. Tấm cô đơn nên chi biết khóc mỗi khi bị chúng ức hiếp.

Trong xã hội người bóc lột người thì cuộc sống đau khổ của những đứa con mồ côi là có thực, còn hạnh phúc mà họ được hưởng thường rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Nhưng phản ánh mơ ước về hạnh phúc cũng là cách thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai và tin vào lẽ công bằng của nhân dận lao động.

Chính vì thế, cái thiện càng bị o ép, áp bức, cái ác càng lộng hành, tác oai tác quái thì càng thể hiện mâu thuẫn sâu sắc không thể dung hoà giữa hai phía, tạo không khí căng thẳng buộc phải thay bậc đổi ngôi.

Con đường đến với hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giải quyết mâu thuẫn đặc biệt trong truyện cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, con đường dẫn đến hạnh phúc của Tấm không thể thiếu sự tham gia của những nhân vật và yếu tố kì ảo.

Yếu tố kì ảo hay lực lượng thần kì là những yếu tố siêu nhiên, sản phẩm do trí tưởng tượng của con ngựời sáng tạo nên. Ở phần đầu truyện, mỗi khi Tấm khóc, Bụt lại xuất hiện an ủi, giúp đỡ cô. Tấm mất yếm đỏ - Bụt cho cá bống. Tấm mất bống - Bụt cho hi vọng đổi đời. Ở phần hai, Tấm bị dì ghẻ cố tình tước đoạt niềm vui, không cho đi xem hội - Bụt cho chim sẻ đến nhặt thóc giúp Tấm và đưa Tấm đến đỉnh cao hạnh phúc. Bụt (tên gọi dân giân của Phật) là nhân vật tôn giáo (Phật giáo) đã được dân gian hóa, trở thành ông lão hiền lành, tốt bụng, thường xuất hiện đúng lúc để thực hiện mơ ước của nhân dân. Cùng với Bụt, con gà và đàn chìm sẻ cũng là yếu tố kì ảo, trợ giúp Tấm trôn đường tới hạnh phúc.

Tấm gặp nhà vua và trở thành hoàng hậu. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất vế hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho các cò gái nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ từ cô gái mồ còi nghèo khổ trở thành hoàng hậu cao sang. Đó cũng là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật thiện như Tấm. Đa số các truyện cổ tích kiểu Tấm Cám đều kết thúc khi nhân vật thiện sau bao khổ sở khó khăn đã được hưởng cuộc sống giàu sang, hạnh phúc. Điều đó thể hiện triết lí "ở hiền gặp lành", khá phổ biến trong truyện cổ tích nói chung; tuy nhiên truyện Tấm Cám không dừng ở kết thúc thông thường đó.

Mở đầu phần hai là cảnh nhà vua mở hội. Hội hè là dịp vui chơi của dân chúng. Đến hội, người ta được sống khác ngày thường. Các thứ ràng buộc, nề nếp khắt khe như được giãn ra nên con người thoải mái hơn, hồn nhiên, ý vị hơn. Có thành ngữ vui như hội là vậy. Trong một năm chi mấy lần có hội, cho nên đi hội là niềm vui lớn, là ước mong tha thiết của mọi người.

Biết vậy nên mụ dì ghẻ tìm cách ngăn cản không cho Tấm đi. Mụ trộn thóc vào gạo, bắt Tấm lựa xong mới được đi là cố tình bịa ra một việc làm vô nghĩa với dụng ý đoạ đày. Không còn lừa phỉnh như lần đầu, cũng chẳng cần lén lút như lần thứ hai, sự áp bức, độc ác của mụ giờ đây đã trở thành trắng trợn.

Còn Tấm lần này cũng chẳng giống như mấy lần trước, lức bị Cám lừa lấy hết giỏ tép, chi còn sót con bống là bạn tầm tình, là nguồn an ủi. Bống bị mẹ con Cám ăn thịt, may nhờ lòng tốt của con gà nôn Tấm tìm được nắm xương bống đem chôn vào bốn chân giường, tuy không hiểu để làm gì nhưng còn niềm hi vọng. Lần này thì sự bất ngờ to lớn đã đến với Tấm: đàn chim sẻ nhặt thóc giùm là bất ngờ; quần áo đẹp, hài thêu, ngựa cưỡi lại càng bất ngờ; được vua rước kiệu về cung là tột đỉnh bất ngờ. Thật ra, người xưa khi đặt chuyện đã có chủ ý hẳn hoi. Tấm bị khốn khó trong thân phận con ghẻ, trong thân phận người bị áp bức, bóc lột, nhưng trước sau Tấm vẫn là người lao động giỏi giang, chịu thương chịu khó, hiền lành, tốt bụng; cho nên nhàn dân muốn Tấm đạt được hạnh phúc cao nhất. Sự đền bù đối với Tấm lần này cũng cao hơn hẳn bởi Bụt đã giúp Tấm: Tấm không những được đi trẩy hội với quần áo đẹp, hài thêu, ngựa cưỡi, khiến mẹ con Cám nhìn thấy phải chết ghen, chết tức mà Tấm cồn được vua chọn làm hoàng hậu.

Mụ di ghẻ và con Cám chịu sao nổi cảnh ấy ? Chúng quyết hại Tấm để giành cho bằng dược địa vị hoàng hậu cao sang. Bốn lần chúng cố tình giết Tấm: khi hái cau ngày giỗ cha, lúc Tấm đã biên thành chim Vàng Anh, lúc Tấm biến thành hai cây xoan đào rồi khung cửi. Giết Tấm lần thứ nhất là để giành lấy ngôi hoàng hậu. Giết Tấm những lần sau là để giữ vững ngôi sang ấy. Nhưng mỗi lần như vậy, Cám không khỏi rụn sợ và ngày càng run sợ. Lần nào nó cũng mách mẹ và mụ ta bày đặt ra tất cả. Tội ác không dừng, tội ác cũng không có giới hạn. Muốn giữ quyển lợi của mình, bọn bóc lột không chùn tay trước thủ đoạn nào, kể cả giết người hết kiếp này đến kiếp khác.

Đổi lại, thái độ của Tấm cũng không còn nhẫn nhịn như giai đoạn trước mà là thái độ phản kháng quyết liệt để giành và giữ hạnh phúc cho mình.

Trước kia, khi gặp khốn khó, Tấm chi biết ôm mặt khóc hu hu, rổi có Bụt hiện lên cứu giúp. Tiếng khóc ấm ức ấy chứng tỏ có ý thức được nỗi khổ của mình. Đó là thải độ phản kháng đầu tiên. Nay thì Tấm tự mình xử trí. Cô Tấm hiền lành, lương thiện vừa ngã xuống thì một cô Tấm mạnh mẽ và quyết liệt đã sống dậy, trở về với cuộc đời để đòi hạnh phúc. Tấm không chịu khuất phục. Sau mỗi lần bị giết, Tấm sống lại dưới một hình hài khác. Đặc biệt, dù là chim Vàng Anh, dù là hai cây xoan đào hay khung cửi, lúc nào Tấm cũng quan tâm chăm sóc cho chồng, tạo cho chồng những phút giây êm ấm. Và trước đó, tuy đã là hoàng hậu cao sang tột bậc, Tấm vẫn giữ bản chất của một cô gái lao động quê mùa, không quên công việc, kể cả chăm lo ngày giỗ của cha. Cũng như khi trở lại lốt người từ quả thị, Tấm vẫn là một cô gái đảm đang, phúc hậu. Có điều cô gái phúc hậu ấy không dễ dàng dung tha tội ác như trước nữa.

Tấm hoá thành chim Vàng Anh, báo hiệu cho nhà vua biết sự có mặt của mình. Chim Vàng Anh bị giết chết, Tấm lại hoá thành hai cây xoan đào. Hai cây xoan đào bị mẹ con nhà Cám chặt làm khung cửi; rồi khung cửi bị đốt thành tro, Tấm hoá ra cây thị, quả thị để trờ về với đời... Cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy, còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi, sống lại của Tấm phản ánh tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến đấu giữa cái thiện với cái ác. Đồng thời thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của cái thiện.

Khi là chim Vàng Anh, khi là cây xoan đào bị chặt đóng thành khung cửi, mấy lần Tấm cảnh cáo con Cám thất đức bằng những lời chẳng nhẹ nhàng chút nào: Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao... Cót ca cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra. Thái độ của Tấm từ phẫn nộ đã biến thành căm thù trước hành vi cố tình chiếm đoạt quyển lợi, không ngừng gây tội ác của mẹ con Cám.

Kiên trì đấu tranh như vậy nên Tấm đã giành được thắng lợi cuối cùng. Tấm gặp lại vua trong hoàn cành hết sức giản dị: tại hàng nước của một bà lão nghèo. Thú Vị hơn, vợ chổng nàng gặp lại nhau nhờ miếng trầu tình duyên truyền thống, miếng trầu têm cánh phượng từ bàn tay khéo léo và dịu dàng của Tấm. Vua cho rước Tấm về cung, hạnh phúc qua bao nhiêu sóng gió nay trở lại trọn vẹn với Tấm.

Nhưng cuộc đấu tranh vẫn chưa chấm dứt. Sau bao lần hoá thân chiến đấu chống kẻ thù, Tấm trở lại với cuộc đời. Dường như Tấm hiểu rằng mình không thể cổ hạnh phúc trọn vẹn khi cái ác còn nhởn nhơ tồn tại, Cám và mụ dì ghẻ vẫn còn đó, thắng lợi của Tấm chưa được coi là trọn vẹn. Quan điểm dân gian là ác giả ác báo, cho nên mớl có chuyện con Cám chết bỏng, mụ dì ghẻ chết tươi. Nhân dân ta vẫn cho rằng kẻ gây ra tội ác thì phải gặp ác, phải bị trừng trị một cách đích đáng. Nhờ vậy trên đời mới có công lí, mới bù lại bao nhiêu đau khổ, oan ức mà người lao động, người bị bóc lột phải chịu đựng đời này sang đời khác. Thực tế cuộc sống thời xưa chưa có công lí ấy nên nhân dân vẫn ước mơ mãi mãi. Mẹ con con Cám đãchết, ước mơ ấy được thực hiện và mọi người nghe chuyện đều thỏa lòng.

Truyện Tấm Cám thể hiện ước mơ công lí, ước mơ hạnh phúc. Trong cuộc đấu tranh gay go vất vả, Tấm luôn được Bụt (nhân vật kì ảo) giúp đỡ, đền bù và Tấm đã thành hoàng hậu. Thời xưa, vua được coi là người sung sướng nhát (sướng như vua), cho nên được làm vợ vua là hạnh phúc cao nhất. Trái lại, bọn xấu, bọn ác, bọn bóc lột nhất định phải đền tội và đền tội thật đích đáng, Do đó, đối với nhân dân, truyện Tấm Cảm có một ý nghĩa thật tốt đẹp. Nó là niềm an ủi, là nguỗn hi vọng và tin tưởng. Nó giáo dục thái độ yêu ghét rõ ràng, dứt khoát: yêu cái tốt, yêu người lao động chân chính, ghét cái xấu, ghét kẻ bóc lột, ăn bám, tàn ác.

Tuy nhiên, yếu tố kì ảo và vai trò của nó ở phần hai của truyện Tấm Cám không giống phần đầu. Nếu như ở phần một của truyện, ta còn thấy Bụt hiện lên ban tặng vật thần kì mỗi lần Tấm khóc, thì ở phần hai, cuộc đấu tranh quyết liệt hơn nhưng ta không còn thấy Tấm khóc, cũng hoàn toàn không thấy sự xuất hiện của Bụt. Nhân dân lao động gửi vào nhân vật Tấm ý thức giành và giữ hạnh phúc của mình. Đó là phải tự mình giành và giữ hạnh phúc thì nó mới bền chật. Vì vậy,khác với phần một, yếu tố kì ảo (chim vàng anh, xoan đào, quả thị) không thay Tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi Tấm hoá thân để trở về tiếp tục đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn mà thôi.

Sự hoá thân để trở về với cuộc đời của Tấm phản ánh mơ ước về công bằng xã hội: Người lương thiện không thể chết oan mà phải được hưởng hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt. Đồng thời thể hiện quan niệm hết sức thực tế về hạnh phúc của người lao động. Họ không cần hanh phúc ở cõi nào khác, mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay ở cõi đời này.

Khi bàn về sự hoá thân của Tấm, có người cho rằng đó là ảnh hưởng từ thuyết luân hổi của đạo Phật. Nhưng thực ra, nếu có mượn thuyết luân hồi thì truyện chỉ mượn cái vỏ bề ngoài để thể hiện mơ ước, tỉnh thần lạc quan của người lao động mà thôi. Bởi luân hồi nhà Phật là phải chịu đau khổ do tội lỗi từ kiếp trước, rồi sau đó mới tìm hạnh phúc ở cõi Niết Bàn cực lạc. Còn cô Tấm chết đi sống lại nhiều lần không phải để chịu khổ đau, cũng không định tìm hạnh phúc mơ hồ ở cõi Niết Bàn mà quyết giành và giữ hạnh phúc ngay ở nơi trần thế. Điều đổ thể hiện lòng yêu đời và tính thực tế của người lao động khi sáng tạo ra truyện cổ tích.

Kết thúc có hậu là biểu hiện tập trung của ước mơ. Nhân vật thiện cuối cùng đã được hưởng hạnh phúc như những gì mà trí tưởng tượng lãng mạn của nhân dân có thể hình dung được.

Cô Tấm nghèo hèn, bị bắt nạt, bị giết chết, nhưng cuối cùng đã được gặp lại nhà vua, trở về cung tiếp tục làm hoàng hậu. Kết thúc đó cũng thể hiện mơ ước đổi đời của dân chúng. Đó là bức tranh về một xă hội lí tưởng có " vua sáng, tôi hiền". Trong xã hội mơ ước đó, họ không phải là loại người bần cùng mà ở địa vị tối cao.

Tấm Cám là truyện cổ tích phổ biến sâu rộng nhất trong dân gian xưa nay. So với các truyện cùng nội dung ở các nước khác, nó có những nét Việt Nam đặc sắc và rất hấp dẫn. Truyện biểu hiện tâm hồn lãng mạn, tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm khát khao vướn tới cái đẹp cùng điều thiện của nhân dân lao động.

Như vậy chúng tôi đã gợi ý Phân tích truyện Tấm Cám bài tiếp theo, các em cần chuẩn bị kĩ những nội dung Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích Truyện Kiều, Nguyễn Duvà cùng với phầnSoạn bài Mã giám sinh mua Kiềuđể học tốt môn Ngữ Văn hơn.

Phân tích truyện Tấm Cám

 

Bài mẫu số 2: Phân tích truyện Tấm Cám

Dù là truyện loài vật, thần kì hay thế tục thì truyện cổ vẫn mang yếu tố chính là xuất hiện và phản ánh những sự việc xảy ra trong xă hội loài người.

Truyện cổ Tấm - Cám thuộc loại truyện thần kì kể về dời cô Tấm, một có bé bất hạnh phải chịu nhiều nỗi đắng cay, chua xót nhưng được tiên, bụt.. phò trợ nên đã vượt qua và đạt được hạnh phúc trong đời.

Truyện tuy có những chi tiết thần kì giữ vai trò mở nút thắt trong từng tình huống, nhưng trên tất cả là thề hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng xã hội, về phẩm chất và năng lực tuyệt vời của con người.

Đoạn đầu truyện, dân gian giới thiệu các nhân vật chính và hoàn cảnh sống của họ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám.

Lời giới thiệu không chỉ gọn, rõ mà còn gợi mở số phận đắng cay của nhân vật Tấm với người đọc. Đúng vậy, tục ngữ - ca dao cũng đã từng nhắc nhở:

Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng

Cám thì được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn. Ngược lại thì Tấm bị dì ghẻ bắt làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà không hết việc.

Sau đoạn văn giới thiệu, tình huống thứ nhất xuất hiện do mụ dì ghẻ rất cay nghiệt bày ra. Mụ mang ra hai cái giỏ đưa cho hai chị em đi bắt tôm bắt tép, và ra điều kiện rằng: Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yểm đỏ.

Một điều kiện, một lời hứa khá là công bằng, chẳng bắt ép con ghẻ, cũng chẳng thiên vị con ruột. Đứa nào nhiều hơn thì được thưởng. Thế thôi! Nhưng ai biết được mụ đã nói gì với Cám, con gái cưng của mụ? Tất nhiên trong sinh hoạt hàng ngày mụ dư biết Tấm đã quen với việc mò tôm bất tép, còn Cám thì không. Chỉ một buổi thôi, Tấm đã bắt được một giỏ đầy. Thấy vậv, Cám mới bảo: Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng.

Về hình thức thì câu nói có vần có điệu khiến lời kể hấp dẫn hơn. về nội dung thoạt nghe thì hữu lí, nhưng nghĩ lại cho cùng thì ẩn chứa sau lời nhắc nhở có chút đe dọa kia là một mưu toan. Tin là thật nên Tấm làm theo, còn Cám thì thừa dịp đó trút hết tôm tép vào giỏ của mình rồi ba chân bôn cẳng chạy về nhà.

Tất cả những chi tiết tạo nên tình huống trên giúp người đọc thấy rõ đặc tính của mỗi nhân vật, ai là người chân thật, ai là kẻ dối trá và lừa đảo.

Trước tình cảnh đó, cô Tấm chỉ còn biết khóc. Thế là Bụt xuất hiện. Hiện thực (Tấm) và siêu nhiên thần kì (Bụt) giao hóa để tạo nên tình huổng mới. Nếu không có Bụt xuất hiện thì hướng phát triển của truyện theo chiều hiện thực (chẳng hạn Tấm về nhà, bị mụ dì ghẻ đánh mắng và đuổi đi...). Có Bụt xuất hiện Bụt mới chỉ cho Tấm cách nuôi con cá bống duy nhất còn sót lại trong giỏ. Và bống cũng trở thành con cá thần kì nghe được tiếng người gọi theo lời Bụt dặn để trồi lên...

Bống bống, bang bang,
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người

Thế giới siêu nhiên thần kì sống giao hòa với con người bắt đầu từ tình huống này. Tấm làm theo lời Bụt nuôi cá bống ở giếng trong vườn nhà, mỗi ngày gặp nhau bằng câu Bụt dặn. Với người tin thế giới tâm linh thì đó là câu thần chú. Với người bình thường thì đó là câu mật khẩu để nhận ra người cùng phe dù không biết mặt mũi của nhau. Nhờ vậy mà Tấm với bông sống và gập gỡ nhau trong một thời gian dài.

Nhưng sự việc không qua được cặp mắt soi mói, đầu óc nghi ngờ của mụ dì ghẻ. Mụ sai Cám đi rình, học thuộc mấy câu trên, rồi thực hiện âm mưu đen tối của mình. Mụ sai Tấm chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu. Tấm làm theo. Tới chiều về, Tấm mang cơm ra cho bống như mọi khi. Gọi mãi mà không thấy bống, cuối cùng chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Chi tiết kì ảo ấy khiến người đọc có cảm giác rờn rợn. Tính độc ác tăng dần trong con người của hai mẹ con mụ dì ghẻ. Cái chết đã xuất hiện, dù là cái chết của con cá bống. Mà cá bống, trong trường hợp này lại là một phần của lực lượng siêu nhiên bởi có sự dẫn dắt, chỉ bảo của Bụt, rõ hơn là tình thương, là sự giúp đỡ cùa Bụt đối với Tấm - cô bé mồ côi, bất hạnh. Bởi vậy, khi nghe Tấm vừa khóc vừa trình bày sự việc, Bụt đã cho biết là bống đã bị người ta ăn thịt và chi cho cách sử dụng xương của bống. Tấm lục lọi tìm xương của bông khắp vườn, nhưng không thấv. Thấy vậy, một con gà bảo Tấm: Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho.

Tấm làm theo yêu cầu của gà, rồi theo gà vào bếp. Lấy được xương bống, Tấm cho vào bốn cái lọ và chôn dưới bốn chân giường theo lời Bụt dặn.

Chắc chắn Tấm chẳng biết ai ăn thịt bống, nhưng qua đoạn văn thì siêu nhiên (ở đây là Bụt) biết, chỉ cho Tấm cách dùng xương của bống, và sắp xếp cho gà gặp và mách bảo cho Tấm. Gà nói được tiếng người hay người nghe được tiếng gà cũng do quyền năng của siêu nhiên. Quyền năng ấy là điều bí ẩn, cũng như việc chôn bốn lọ đựng xương xuống dưới bốn chân giường để làm gì, sau này chúng thành nhừng thứ gì thì con người chẳng ai biết. Nhưng người đọc nhận ra sự liên can giữa bốn lọ xương với Tấm khi tự đặt ra câu hỏi: Tại sao không chôn bốn lọ xương ây ở một nơi nào khác mà lại chôn dưới bốn chân giường của Tấm? Chính những chi tiết ấy khèu gợi tính tò mò của người đọc khiến họ không muốn đứt câu chuyện.

Truyện được kể tiếp về những ngày hội ở kinh đô. Không muôn Tấm cùng đi, mụ dì ghẻ trộn hai đấu thóc và gạo vào nhau, bảo Tấm lựa hai loại để riêng ra rồi hãy đi. Bụt lại giúp Tấm hai câu thần chú gọi chim sẻ:

Rặt rặt xuống nhặt cho tao
Ăn mất hạt nào, thì tao đánh chết.

Không có quần áo đẹp đi dự hội, Bụt bảo Tấm đào bôn cái lọ đã chôn dưới bốn chân giường lên. Xương của bống đã hóa thành lễ phục, đỏi giày thêu, con ngựa và yên ngựa. Từ phương tiện để chưng diện, di chuyển ấy Tấm nhanh chóng đi dự lễ hội. Ngựa phóng qua chỗ lội, Tấm bị rơi mất một chiếc giày. Hai chú voi đẫn đầu đoàn xa giá của vua đến dự hội tới đấy đều kêu rống lên, không chịu đi tiếp. Nhà vua phải sai quân hầu tìm hiểu thì vớt được chiếc giày. Nhà vua nhìn kĩ chiếc giày và thầm bảo: Chà, một chiếc giày thật xinh! Người đi giày này hẳn phải là một trang tuyệt sắc. Từ chiếc giày ở đây trở lại đầu truyện, những chi tiết tạo nên những tình huống giúp Tấm vượt qua thử thách đều do Bụt, và bống là nhân vật liên can. Chính nhờ chiếc giày được biến hóa từ xương của bông mà Tấm được vua sai đoàn thị nữ rước nàng vào cung, dù trước đó khi gặp hai mẹ con Cám trong buổi thử giày nàng đã bị mụ dì ghẻ bĩu rằng: Chuông khánh còn chả ăn ai, nữa là mảnh chinh vứt ngoài bờ tre. Từ đây trở về sau, các chi tiết chính tạo nên các tình huống chính đều liên can trực tiếp đến sinh mạng của Tâm, và mưu mô ác độc của mụ dì ghẻ và Cám.

Tuy sống sung sướng trong hoàng cung, Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Chi tiết ấy cho người đọc nhận ra Tấm không chỉ là cô gái thật thà mà còn là người con hiếu thảo. Nàng xin phép nhà vua về phụ với dì ghẻ làm cỗ cúng cha thì bị mụ dì ghẻ lợi dụng lòng hiếu thảo ây sai nàng trèo lên cây cau xé lấy một buồng để cúng bố để đốt cây giết nàng. Mụ còn đưa Cám vào cung thay thế vai trò của chị. Nhà vua thì trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả.

Cái chết của Tấm nảy sinh ra một chuỗi tình huống nhỏ tiếp theo. Tấm chết, hóa làm chim vàng anh, bay thẳng về cung nhắc nhở Cám:

Phơi áo chồng tao, phai lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Chim vàng anh được vua vô cùng yêu qúy, cho ở lồng vàng. Cám biết được, nghe lời mẹ bắt vàng anh làm thịt nấu ăn và vứt lông chim ra vườn. Lông chim hóa ra hai cây xoan đào được vua cho mắc võng và ngày nào cũng ra nám hóng mát. Mụ dì ghẻ và Cám lén chặt cây làm khung cửi. Cứ mỗi lần ngồi dệt và Cám nghe lời đe dọa.

Cót ca cót két,
Lấy tranh chồng chị,
Chị khoét mắt ra

Sợ quá, Cám nghe lời mẹ đốt khung cửi rồi sai người mang tro đổ bên vệ đường cách xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên một cây thị chỉ đậu được một quả khi đến mùa, hương thơm ngát tỏa ra khấp nơi. Bà lão hàng nước gần đó thấy bèn xin:

Thị ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi, chứ bà không ăn.

Về với bà lão hiền từ, Tấm từ quả thị chui ra giúp bà dọn dẹp nhà cửa, múc nước, nấu cơm. Bà lão thấy ]ạ bèn rình xem. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà ôm choàng lấy, rồi xé vụn võ thị Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con.

Nhân một chuyến vi hành, thấy quán nước sạch sẽ và tươm tất nên nhà vua ghé vào. Bà lão mang cau trầu và nước dáng vua. Thấy miếng trầu têm cánh phượng, vua nhớ tới miếng trầu Tấm têm dâng vua ngày trước, bèn hỏi bà lão. Nhờ vậy mà Tấm và vua đoàn tụ.

Một chuỗi nguyên nhân và kết quả, một chuỗi tình huống nhỏ xuất phát từ cái chết, từ xương thịt của Tấm. Từ chim vàng anh, cây gỗ xoan đào, khung cửi, cây thị đều có gốc từ xương thịt của Tấm mà ra. Nhưng chỉ từ cây thị, quả thị Tấm mới hóa kiếp lại thành người bởi Tấm đã trả xong những món nợ trong quá khứ mà đạo Phật gọi là nghiệp (nghiệp báo) nay ở vào hoàn cảnh gặp được người lành.

Nếu ở truyện cổ Thạch Sanh - Lí Thông, Thạch Sanh thì tha nhưng Trời thì trừng phạt, cả hai mẹ con Lí Thông bị sét đánh chết thì ở truyện này Tấm lại trả thù, giết chết Cám. Có người cho rằng Tấm nhẫn tâm. Nhưng suy cho cùng thì mẹ con Cám đã tạo nghiệp ác quá nhiều, giết mẹ con Cám là Tấm muôn xóa sạch nghiệp ác ấy, để những người khác không phải chịu hành vi độc ác của mẹ con Cám nếu cả hai còn sống. Cái chết của mẹ con Cám hợp với quy luật: Gieo gió thì gặp bão!

Truyện cổ thần kì Tấm - Cám kể lại số kiếp long đong trong một phần đời của Tấm kể từ ngày mất mẹ, mất cha, và phải sống với mụ dì ghẻ và đứa em gái cay nghiệt độc ác. Qua nghệ thuật hư cấu truyện với những chi tiết thần kì, phần đời ấy, sự chuyển biến hình tượng của Tấm chính là sự đấu tranh giữa điều thiện với cái ác, là sự mâu thuẫn và xung đột trong gia đình dưới chế độ mẫu hệ. Từ một cô bé mồ côi bị hãm hại phải chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng Tấm vẫn giữ ngôi hoàng hậu đã thể hiện sức mạnh của điều thiện trước cái ác.

Phân tích truyện Tấm Cám

 

Bài mẫu số 3: Phân tích truyện Tấm Cám

1. Đặc điểm về nội dung

Tấm Cám thuộc kiểu truyện về nhân vật người con riêng rất phổ biến trong kho tàng truyện cổ tích thần kì trên thế giới. Trong thế giới nhân vật cổ tích thì nhân vật người con riêng, người em út, người mồ côi là những nhân vật trung tâm mà sự xuất hiện gắn liền với sự nảy sinh chế độ tư hữu và gia đình cá thể. Xã hội phong kiến phụ quyền với quan niệm "quyền huynh thế phụ" ưu tiên quyền thừa kế tài sản cho người anh cả, người con chung. Những người em út, người con riêng, người mồ côi trở thành đối tượng chịu nhiều thua thiệt, bất hạnh nhất. Mâu thuẫn, bất công trong xã hội có giai cấp được phản ánh rõ nét trong phạm vi gia đình. Theo GS. Đinh Gia Khánh, kiểu truyện Tấm Cám của dân tộc Việt và các dân tộc trên thế giới đều chứa đựng ít nhất hai chủ đề : Chủ đề thứ nhất là mâu thuẫn dì ghẻ - con chồng; chủ đề thứ hai là tác dụng của báu vật giúp người hiền tìm ra hạnh phúc. Truyền thuyết mang đậm đặc điểm dân tộc còn truyện cổ tích mang tính quốc tế rõ nét. Nhân vật truyền thuyết do lịch sử tạo ra còn nhân vật truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng của nhân dân để thực hiện chức năng điều hoà xung đột xã hội trong mơ ước. Chính vì thế nhân vật và các chi tiết nghệ thuật mang tính lặp lại, nhân vật được xây dựng trở thành những kiểu mẫu quen thuộc.

2. Bố cục của truyện Tấm Cám

Truyện Tấm Cám có hai phần ứng với hai đoạn đời của nhân vật Tấm, cũng là hai giai đoạn của cuộc đấu tranh giữa Tấm và mẹ con Cám mang ý nghĩa biểu trưng cho thiện và ác.

Phần 1 : Về thân phận của Tấm - cô gái mồ côi ngây thơ, hiền dịu phải chịu bao nỗi bất công, đoạ đày của mẹ con người dì ghẻ.

Phần 2 : Cuộc đấu tranh quyết liệt của Tấm để giành lại sự sống và hạnh phúc.

a) Tấm - người con riêng bất hạnh phải chịu đựng bao nỗi bất công, đoạ đày của mẹ con người dì ghẻ.

- Truyện kể về mâu thuẫn xảy ra trong gia đình phụ quyền thời cổ. Tấm đại diện cho loại nhân vật mồ côi (Tấm là cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ) chăm chỉ, hiền lành. Mẹ con người dì ghẻ là hiện thân của cái ác. Tấm chịu sự bất công ngay dưới mái nhà của mình, làm quần quật cả ngày không hết việc, còn Cám được mẹ nuông chiều.

- Chi tiết cái yếm đỏ : vốn chăm chỉ lại được người dì ghẻ treo giải thưởng cái yếm đỏ, Tấm bắt được đầy giỏ -> bị Cám lừa -> Tấm ngồi bưng mặt khóc hu hu -> Bụt hiện lên giúp Tấm.

- Chi tiết con cá bống : Nếu như cái yếm đỏ - vật trang sức có giá trị nhỏ bé, bình dị mà cũng là niềm mơ ước không thành của cô gái mồ côi thì con cá bống, con vật hiền lành, người bạn mới, noi nương tựa tình cảm duy nhất của Tấm cũng bị kẻ ác rình mò giết hại. Hình tượng cục máu nổi lên mặt nươc nói về nỗi oan khuất, nỗi hận thù -> Tấm oà khóc Bụt lại hiện lên.

- Người dì ghẻ ghen ghét và độc ác không muốn cho Tấm đi trẩy hội, trộn thóc vói gạo bắt Tấm nhặt -> Tấm ngồi khóc một mình -> Bụt lại hiện lên cho đàn chim sẻ giúp Tấm.

Tấm không có quần áo đẹp đi hội, Bụt bảo đào bốn lọ đựng xưong cá bống chôn ở chân giường. Xương cá bống biến thành quần áo đẹp, ngựa, giày.

- Tấm qua chỗ lội, rơi một chiếc giày xuống nước -> Tấm thử vừa giày -> được làm hoàng hậu. Ở đây ta thấy môtíp "vật báu đem lại hạnh phúc cho nhân vật thiện". Khép lại phần 1 của câu chuyện.

b) Tấm đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc

- Kết cấu của truyện Tấm Cám ở Việt Nam và một số truyện cổ tích các dân tộc ở Đông Nam Á cơ bản có nhiều điểm giống nhau, nhưng cũng có nhiều nét khác với cốt truyện Cô Lọ Lem ở châu Âu. Nếu như truyện Cô Lọ Lem của Pháp và một số nước thuộc châu Âu kết thúc khi Lọ Lem được kết hôn với hoàng tử nhờ đôi hài xinh xắn (Tương đồng giữa các cốt kể này ở nhân vật người con riêng với hai mồtíp chính : môtíp mâu thuẫn dì ghẻ - con chồng và môtíp vật báu đem lại hạnh phúc), thì phần sau của kết cấu truyện Tấm Cám của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á có đặc điểm khác giúp cho việc thể hiện nét độc đáo trong chủ đề tác phẩm. Mẹ con người dì ghẻ trong truyện cổ tích châu Âu chỉ thể hiện sự ghen ghét, xấu xa của mình ở những hành động tranh công, lừa dối chứ chưa đến mức tiêu diệt sự sống của người con riêng như trong truyện Tấm Cám. Cho nên khi Lọ Lem được đổi thay số phận, trở thành hoàng hậu thì mẹ con người dì ghẻ xấu hổ, hoảng sợ mà trốn biệt, không còn ai gặp lại nữa. Trong truyện Tấm Cám, mẹ con người dì ghẻ đã không chỉ ghen tị, độc ác thông thường mà còn tiến sâu đến tột cùng tội ác là giết hại Tấm hết lần này đến lần khác. Tấm tuy đã là hoàng hậu nhưng vẫn là một cô gái hiếu thảo, trèo lên cây hái cau để giỗ cha. Người dì ghẻ chặt cây cau, Tấm ngã xuống ao chết đuối - Cái ác đã huỷ diệt cái thiện. Mâu thuẫn đã trở nên một mất một còn. GS. Đinh Gia Khánh đã có một nhận xét thật chí lí và sâu sắc : "Thật kì lạ khi thể xác của cô Tấm bị giết hại thì ý thức của cô thức tỉnh. Dường như có một cô Tấm khác sống dậy không phải để bưng mặt khóc, để bị lừa dối mà tỉnh táo nhận diện, vạch mặt kẻ thù, để tìm lại hạnh phúc đã mất và tự tay trả thù". Hay : "Mỗi lần bị quật ngã là một lần cô Tấm đứng phắt dậy. Mỗi lần bị giết là một lần cô sống lại không phải là để chịu khổ như thuyết luân hồi quan niệm mà là để đấu tranh [...]. Cái đẹp nổi bật nhất của cô là ở tinh thần đấu tranh kiên cường [...]. Cô gái ngây thơ đó khi cần thì đã biết căm thù, cô gái dịu hiền đó, khi cần thì đã biết đấu tranh".

Khi khai thác truyện Tấm Cám, cần chú ý đến những lời vần vè mà nhân dân rất thích thú khi vạch mặt Cám : "Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ ; phơi bờ rào, rách áo chồng tao." ; hay :

Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị
Chị khoét mắt ra.

Nếu ở kết cấu phần trước, mỗi khi bị lừa dối, bị khổ đau, cô Tấm hiền lành thụ động chỉ biết bưng mặt khóc, mỗi lần ấy lại có Bụt (yếu tố thần kì) xuất hiện đúng lúc giúp cô thì ở phần sau, cô Tấm chủ động, kiên cường biến hoá từ kiếp này sang kiếp khác, đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù. Ở đây quan niệm luân hồi của đạo Phật (thuyết luân hồi của đạo Phật cho ràng luân hồi là vòng quay của bánh xe, con người ta sống là gửi, thác là về, cuộc sống lăn theo vòng quay từ kiếp này sang kiếp khác) chỉ là cái vỏ hình thức để cho nhân dân thể hiện triết lí dân gian khoẻ khoắn, lành mạnh của mình. Truyện Tấm Cám thể hiện thái độ cúa nhân dân bênh vực người bất hạnh và là bài ca cố vũ tinh thần đấu tranh giành lại hạnh phúc và trừng phạt cái ác.

- Vấn đề trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám :

Ở đây có vấn đề cần chú ý là chi tiết trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám. Đây là vấn đề gây nên nhiều ý kiến tranh luận. Nhân dân rất hỉ hả với các kết thúc "ác giả ác báo" như vốn có trong truyện, điều quan trọng là nó chứng minh cho triết lí nhân sinh của nhân dân (Có thể thấy cách kết thúc này có mặt trong hầu hết các dị bản truyện Tấm Cám ở Việt Nam và như một số nhà nghiên cứu đã nhận xét : cách trừng phạt ấy không mấy xa lạ với những hình phạt tàn khốc thời trung cổ). Song ngày nay, để đảm bảo tính giáo dục thẩm mĩ, nên chăng tán thành cách thay đổi hình thức trừng phạt đối với mẹ con Cám ở phần cuối tác phẩm : "Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu giội nước sôi vào hố. Cám chết. Mụ dì ghẻ thấy vậy củng lăn đùng ra chết".

Rõ ràng khảo sát kết cấu hai phần trong truyện Tấm Cám khi đối sánh với kết cấu kiểu truyện này ở một số dân tộc khác ở châu Âu cho ta thấy nét tưong đồng và dị biệt trong các truyện cổ tích. So sánh một số môtíp khác trong các dị bản, ta có thể nhận diện tính chất quốc tế và đặc điểm dân tộc trong truyện cổ tích. Cùng môtíp xảo quyệt, ác độc của người dì ghẻ, truyện cổ tích dân tộc Việt kể là người dì ghẻ "lấy một đấu gạo trộn lẫn vớí một đấu thóc" và bắt Tấm ở nhà nhặt thóc gạo riêng ra. Tấm bị lừa đi chăn trâu đồng xa, truyện cổ tích một số dân tộc khác cũng có các môtíp ấy nhưng biểu hiện khác trong việc lựa chọn không gian hay đồ vật. Nàng Kang-tóc (truyện Cam-pu-chia) thì nuôi con cá lóc chứ không phải con cá bống, Lọ Lem bị bắt đi lấy nước trong rừng tối,... Truyện cổ tích có một số lượng tip và môtíp có hạn nhưng những biến thể của các môtíp ấy lại là vô hạn, chính vì thế, các dân tộc không ngừng sáng tạo ra những truyện cổ tích của dân tộc mình. Đôi hài kì lạ là môtíp vật giao duyên không thể thiếu trong kiểu truyện người con riêng ở châu Âu có chức năng nhận biết duy nhất một người thì ở truyện cổ tích Tấm Cám của dân tộc Việt còn có môtíp miếng trầu giao duyên, dấu hiệu nhận lại. Cái yếm đỏ, con cá bống, cây xoan đào, cây thị bên đường, lễ hội, bà hàng nước,... là những chi tiết đậm nét dân tộc.

- Yếu tố thần kì trong truyện :

Yếu tố thần kì được biểu hiện phong phú, đậm nét trong truyện Tấm Cám. Ở đây nhân vật thần kì là ông Bụt hiền hậu, nhân từ, là cá bống, gà, chim sẻ luôn có mặt đúng lúc để giúp Tấm lúc khó khăn ; là vật nhiệm màu như đôi hài, xương cá chôn trong lọ dưới chân giường biến thành quần áo đẹp, ngựa hồng,... ; là sự biến ảo của Tấm từ kiếp nay .pang kiếp khác. Yếu tố thần kì trong truyện cổ tích có nét khác với yếu tố thần kì trong thần thoại. Thần thoại là sáng tác nghệ thuật "không tự giác" nên yếu tố thần kì trong thần thoại là biểu hiện của tín ngưởng nguyên thuỷ, là cái mà người xưa "tin", còn yếu tố thần kì của truyện cổ tích là phưong tiện nghệ thuật được sử dụng một cách có ý thức để nhân dân thực hiện ước mơ đổi thay số phận cho những nhân vật bất hạnh. Đồng thời yếu tố thần kì tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn tuyệt vời của truyện cổ tích, đặc biệt đối với trẻ em. Không gian làng quê gần gũi, bình dị kết hợp với không gian kì ảo tạo thành thế giới cổ tích hết sức đặc trưng trong truyện cổ tích mà truyện Tấm Cám là một ví dụ tiêu biểu.

3. Đặc điểm về nghệ thuật

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật trong truyện cổ tích mang tính khái quát cao, biểu trung cho một loại người trong xã hội chứ không mang tính cá biệt. Ví dụ : Tấm biểu trung cho cái thiện, mẹ con Cám biểu trưng cho cái ác. Tất cả những điều đó không phải qua thuyết minh của ngôn ngữ người kể chuyện, cũng không qua việc miêu tả tâm lí và ngoại hình nhân vật (Truyện cổ tích không chú trọng miêu tả tâm lí và ngoại hình nhân vật) mà tính cách nhân vật phải biểu hiện qua hành động. Nhân vật truyện cổ tích là nhân vật chức năng, vừa là nhân vật hành động vừa là công cụ để nhân dân thực hiện ước mơ công lí "ở hiền gặp lành", "ác giả ác báo".

- Cốt truyện đa tình tiết, phát triển hợp lí. Kết cấu hai phần sáng rõ, góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề. Ví dụ : Phần đầu Tấm luôn bị động, mỗi lần bị mẹ con dì ghẻ ức hiếp chỉ biết ôm mặt khóc ; phần sau từ khi bị giết, Tấm đã liên tục chủ động đấu tranh. So với một số dị bần kiểu truyện người con riêng ở một số nước sẽ thấy rõ tính chất phong phú về tình tiết, tính dân tộc và tính quốc tế của truyện Tấm Cám.

- Yếu tố thần kì được sử dụng đậm nét, nhân vật thần kì, vật nhiệm màu, sự biến ảo tạo sức hấp dẫn đặc biệt về nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích thần kì Tấm Cám.

- Chất cổ tích đậm nét qua lối kể chuyện mang tính phiếm chỉ về thời gian, không gian, nhân vật.

- Những câu vần vè đan xen trong truyện như lòi hát gọi cá bống, tiếng cục ta cục tác của con gà, tiếng hót của chim vàng anh, tiếng kêu của khung cửi là biện pháp nghệ thuật có hiệu quả, khắc sâu ấn tượng cho người nghe và tăng chất thơ cho tác phẩm tự sự dân gian.

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-truyen-tam-cam-39016n.aspx

Tác giả: Phí Quỳnh Anh     (3.8★- 16 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Dàn ý phân tích nhân vật Tấm trong truyện Tấm Cám
Phân tích các hình thức biến hoá của Tấm trong truyện Tấm Cám
Dàn ý phân tích các hình thức biến hoá của Tấm trong truyện Tấm Cám
Bản chất mâu thuẫn và xung đột trong truyện Tấm Cám
Phân tích mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám trong Tấm Cám
Từ khoá liên quan:

phan tich truyen tam cam

, Phân Tích Truyện Tấm Cám Lớp 10, phân tích truyện cổ tích Tấm Cám,
SOFT LIÊN QUAN

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá