Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên

Bên cạnh bài cảm nhận về đoạn trích Trao duyên, để đồng cảm với số kiếp truân chuyên của nàng Kiều, các em không nên bỏ qua bài Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên mà chúng tôi giới thiệu đến các em dưới đây.

Tổng đài hỗ trợ văn học: Gọi 1900.63.63.81 (văn ngắn, điểm cao)
Mục Lục bài viết:
1. Dàn ý
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3
5. Bài mẫu số 4

cam nhan cua em ve 12 cau tho dau trong doan trich trao duyen

3 Bài văn mẫu Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên


I. Dàn ý Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên (Chuẩn)

1.  Mở bài:

-  Giới thiệu tác giả, tác phẩm

2. Thân bài:

-   Vị trí: Từ câu 723-734
-  Nội dung: là lời Thuý Kiều nhờ cậy em mình, thay mình trả duyên cho Kim Trọng.

a. Lời nhờ cậy của Thuý Kiều:

-  Lời lẽ trao duyên:
+ “Cậy”: Nhờ vả, gửi gắm, âm điệu nặng nề, gợi lên sự đau xót, mang hàm ý trộng đợi, hi vọng.
+ “Chịu”: Nhận lời, bắt buộc chấp nhận, không thể chối từ, mang sắc thái nài ép, thúc ép người khác phải nhận lời.

-   Cử chỉ, hành động trao duyên:
+ “Lạy, thưa”: Thái độ kính cẩn như với người bề trên, không phải là hành động của chị dành cho em => bất thường, tạo nên sự trang nghiêm.
+ Hành động bất thường nhưng ở đây hợp lý: sự hi sinh của Thuý Vân khi thay Kiểu chắp duyên xứng đáng.
- Cách nói của Kiều thông minh, khéo léo => Cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du rất tài tình.

b. Lý lẽ trao duyên:

- Tình cảnh của Kiều:
+ “Đứt gánh tương tư”: thành ngữ, ở đây chỉ mối duyên của Kiều và Kim Trọng dang dở...(Còn tiếp)

>> Xem chi tiết Dàn ý Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên tại đây.
 

II. Bài văn mẫu Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên
 

1. Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên, mẫu số 1 (Chuẩn):

Truyện Kiều là kiệt tác thơ bằng chữ Nôm của thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm kể về cuộc đời và số phận của Thúy Kiều, người con gái tài sắc nhưng lại có số phận truân chuyên, bất hạnh. Thúy Kiều từng là một tiểu thư khuê các với cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che”, nàng cũng có một tình yêu thật đẹp với chàng thư sinh Kim Trọng. Tuy nhiên biến cố ập đến bất ngờ, để cứu cha và em, Kiều đã bán mình cứu cha, làm tròn chữ hiếu của một người con, bỏ lỡ mối lương duyên với Kim Trọng. Để hiếu tình vẹn tròn, Thúy Kiều đã quyết định tình duyên với Kim Trọng cho em gái mình là Thuý Vân. Bối cảnh và tâm trạng Thúy Kiều khi trao duyên được thể hiện rõ nét qua 12 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên.

Mười hai câu thơ đầu của đoạn trích Trao duyên chứa chan những lý lẽ, sự chân thành và cả niềm đau xót vô bờ của Thuý Kiều khi phải trao đi mối tình đầu sâu nặng của mình. Thế nên, khi mở đầu câu chuyện, mở đầu đoạn trích, khung cảnh hiện lên thật não nề làm sao:

“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Là một người chị trong nhà, vậy mà Thuý Kiều lại dùng những lời lẽ hết sức kính cẩn, hết sức thận trọng với em giá mình, nào là “cậy”, nào là “chịu lời”! Tại sao Kiều lại sử dụng những từ ngữ hết sức thành kình như thế? “Cậy” tức là nhờ vả, thế nhưng Kiều không nói là nhờ em mà là “cậy em”. Lời thơ mang âm điệu nặng nề, mang cả sự gửi gắm đầy trân trọng của nàng dành cho em gái, gợi lên cả sự day dứt, đau xót khôn nguôi đang âm ỉ cháy trong lòng nàng. Chỉ một chữ “cậy” ấy mà chứa chan bao sự mong đợi, hy vọng tha thiết của Kiều. “Cậy” em như thế, không biết em có “chịu lời” hay chăng? Từ “chịu” ở đây mang nghĩa là nhận lời, thế nhưng Kiều lại sử dụng từ “chịu” để đưa Thúy Vân vào thế khó, bắt buộc phải nhận lời, không thể từ chối. Âm điệu tiếng thơ mang trong đó sự van xin, nài nỉ, thúc ép Thuý Vân phải nhận lời. Nguyễn Du đã để Kiều lên tiếng bằng những lời thơ thật day dứt, thật khẩn thiết, dồn ép Thuý Vân vào thế khó xử mà phải nhận lời.

Càng bất thường hơn khi Kiều hạ thấp vai vế của mình, để em gái ngồi lên ghế còn mình thì “lạy, thưa”. Hành động “lạy, thưa” vốn là hành động dành cho những bậc bề trên tôn kính, nhưng ở đây, Kiều lại dùng cho em mình, thật là bất thường, thật là khó hiểu! Thế nhưng điều đó chẳng hề khó hiểu khi Kiều đang nhờ vả một việc lớn, liên quan đến hạnh phúc cả đời của em gái mình. Thái độ đó còn tạo nên một sự trang nghiêm, thiêng liêng đối với sự việc mà Kiều đang muốn cậy.

Thúy Kiều là người con gái thông minh, sắc sảo, điều này được thể hiện rõ nét qua lời nói và hành động nhờ cậy của nàng với Thúy Vân. Cách nói của Kiều mang đầy sự kính cẩn đối với một người có ơn với mình khiến cho người đó không thể từ chối. Đồng thời, với cách sử dụng từ ngữ hết sức tài năng, Nguyễn Du còn khiến cho người đọc như cảm nhận được một nỗi đau xót vô bờ đằng sau mỗi lời nói và cử chỉ của Kiều.

Sau khi đưa ra lời cậy nhờ em gái, Kiều mới mở lời với Thuý Vân lý lẽ trao duyên của mình. Nàng nói:

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Kiều đưa ra lý do đã khiến nàng phải làm như vậy, đó là vì chữ hiếu. “Đứt gánh tương tư” đây là thành ngữ chỉ sự dang dở trong tình yêu, và ở đây là tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng, Kiều đang muốn giãi bày hoàn cảnh của mình cho em gái hiểu, nàng vì cha, vì em mà phải bán mình, làm “đứt gánh” mối duyên cùng chàng Kim Trọng. Vậy nên, nàng muốn Thuý Vân “chắp mối tơ thừa” để thay nàng trả duyên cho chàng Kim. Từ “mặc” ở đây không phải mặc kệ mà là phó mặc, là uỷ thác. Kiều hiểu rằng chấp nhận chuyện này sẽ khiến em gái nàng thiệt thòi bởi giữa Thuý Vân và Kim Trong chưa hề có tình yêu. Những lời thơ thống thiết chứa đựng nỗi đau đớn xé lòng của Thuý Kiều, nỗi quằn quại đang dằn xé tâm can nàng. Thế nhưng, những lời nói ấy lại chính là những lời thuyết phục nhất, khéo léo nhất để khiến Vân hiểu, đồng lòng với Kiều mà nhận lấy trách nhiệm nặng nề này.

Nhắc đến tình yêu của mình, Kiều lại tưởng nhớ lại những kỉ niệm, những lời thề nguyền của người yêu. Những hình ảnh “quạt ước”, “chén thề” làm ùa về trong tâm trí nàng những cảnh sắc của đêm thề nguyền dưới trăng, của tình yêu ấm áp và hạnh phúc với Kim Trọng.

“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”

Thế nhưng, tai hoạ ập đến khiến nàng buộc phải lựa chọn giữa hiếu và tình. Và nàng đã chọn chữ hiếu. Tình yêu đầu càng đẹp càng khiến trái tim nàng đau đớn khôn nguôi. Chữ hiếu chữ tình không thể “hai bề vẹn hai” nên nỗi đau đó khiến nàng khổ sở, khiến nàng ngày đêm dằn vặt trong đau xót. Kiều bộc bạch hết với Thuý Vân vừa là để giải thoát cho lòng mình vừa muốn Vân hiểu được tình cảnh ngang trái của mình để giúp nàng thực hiện mối duyên đó.

“Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

Những lời nói gan ruột của Kiều cứ thốt lên trong sự đau xót, trong sự dằn vặt. Kiều muốn Vân nhận lời mình, muốn Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng, vì nàng biết, sự ra đi lần này của nàng không biết bao lâu mới có thể gặp lại. Nàng nhắc tới tuổi trẻ của Vân, nhắc tới tình chị em ruột thịt:

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Tương lai Vân còn ở phía trước, tuổi trẻ còn tràn trề, hơn thế, tình máu mủ ruột thịt còn đó, em hãy nhận lời trả duyên giúp chị. Mong rằng em sẽ niệm tình thân đó mà nhận lời thay chị thực hiện lời thề “nước non” đó cùng chàng. Những lời Kiều nói ra vừa đượm nỗi đau xót vừa đầy thuyết phục khiến Vân khó lòng có thể chối từ.

Kiều biết rằng, có thể sự ra đi lần này sẽ không thể trở lại, cái “chết” có thể diễn ra bất cứ lúc nào, vậy nên, nàng đã đem điều đó làm lý do để thuyết phục Vân:

“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Đối với Kiều, lời hứa lời thề với Kim Trọng, việc trả nghĩa cho chàng còn quan trọng hơn cái chết của nàng. Chính vì vậy, kể cả khi chết đi, trong thâm tâm nàng vẫn mong trả được mối duyên với Kim Trọng. Và nếu điều ấy đã được thực hiện, thì nàng cũng mãn nguyện mà “ngậm cười” nơi “chín suối” mà cảm kích Thuý Vân đã giúp đỡ mình. Câu thơ nặng nề như một lời trăn trối, như tâm nguyện của một người sắp chết, điều đó khiến lời khước từ của Thuý Vân càng khó có thể nói ra.

Những lời nói của Thuý Kiều khi trao duyên thật thuyết phục, thấu tình đạt lý khiến cho người em như Thuý Vân khó lòng chối từ. Từng câu thơ là từng nỗi lòng của Kiều được bộc bạch một cách khéo léo, thông minh, chứa đựng niềm đau xót vô bờ khi phải rời xa tình yêu đầu còn đang mặn nồng hạnh phúc và còn chứa đựng đức hi sinh cao cả của Kiều vì chữ hiếu, vì gia đình nữa.

Về nghệ thuật, tài năng của Nguyễn Du được thể hiện rõ qua các sử dụng ngôn ngữ hết sức đặc sắc và tinh tế. Mỗi từ ngữ đều được ông chọn lựa kỹ càng tạo nên một lời thuyết phục hết sức khéo léo và thông minh của Kiều. Đồng thời Nguyễn Du cũng sử dụng một số thành ngữ cũng như hình ảnh ẩn dụ để gợi nên sự hoàn cảnh cũng như niềm day dứt trong lòng Kiều. Nhịp điệu thơ rất nhẹ nhàng, chứa đựng đầy cảm xúc, sư thống thiết, dằn vặt.

Mười hai câu đầu trong đoạn trích Trao duyên là những cậy nhờ, gửi gắm trả nghĩa tình cho Kim Trọng đầy chân thành của Kiều cho em gái về mối tình đầu sâu đậm của mình. Vì những lề thói, những chế độ quan quyền đã gián tiếp đẩy Kiều rời xa tình yêu của mình. Qua đó, chúng ta thấy hiện thực xã hội phong kiến chuyên quyền thối nát, đẩy con người ta vào bước đường cùng đầy đau khổ, thiệt thòi đặc biệt là người phụ nữ.
 

2. Cảm nhận về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên, mẫu số 2 (Chuẩn)

Nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du chúng ta không thể không nhắc đến tác phẩm “Truyện Kiều”. Đây là tác phẩm mà Nguyễn Du đã thể hiện được niềm cảm thông, thương xót với số phận “hồng nhan bạc mệnh”. Cuộc đời của Thúy Kiều gặp nhiều sóng gió, trắc trở. Mười hai câu thơ đầu của đoạn trích “Trao duyên” là sự mở đầu cho những tai ương mà nàng gặp phải.

Để có tiền chuộc cha và em, Thúy Kiều đã quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh. Quyết định ấy khiến nàng vô cùng đau đớn khi mối tình với Kim Trọng bị dang dở. Để không phụ lòng người mình yêu, nàng đã trao duyên lại cho người em gái Thúy Vân để cô thay mình nối duyên với chàng Kim:

“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Ngay từ câu thơ mở đầu, người đọc đã cảm nhận được sự trang trọng trong lời nói và hành động của Thúy Kiều. Phải chăng việc trao duyên là việc hệ trọng, khó nói nên cách thức trao duyên cũng trịnh trọng và khác lạ hơn bởi thông thường người ta chỉ trao những đồ vật chứ không có ai lại trao đi một thứ khó xác định, khó nắm bắt như trao duyên. 

 
phan tich 12 cau tho dau bai trao duyen
 
Cảm nhận  về 12 câu thơ đầu trong Trao duyên để thấy được hoàn cảnh và tâm trạng Kiều khi trao duyên
 

Tuy là chị nhưng Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ, hành động rất trang trọng đối với Thúy Vân. Nàng không sử dụng từ “nhờ” mà lại dùng từ “cậy”. “Cậy” không chỉ mang nghĩa nhờ vả mà còn mang sắc thái như nài nỉ, ép buộc đồng thời cũng thể hiện sự tin tưởng vào người được nhờ cậy. Song song với lời nói là hành động “lạy”, “thưa” của Thúy Kiều. Việc nhờ cậy phải hệ trọng, khẩn thiết lắm thì Thúy Kiều mới có hành động như vậy. Thông thường chỉ những người có vai vế thấp hơn người cùng giao tiếp mới có những hành động “lạy”, “thưa” nhưng trong trường hợp này, Kiều đã hạ mình xuống để cầu mong em gái chấp nhận lời thỉnh cầu của nàng bởi lẽ nàng là người mang ơn. Đặt mình trong hoàn cảnh của Thúy Vân thì cô chỉ có thể “chịu lời” chứ không thể từ chối. Nếu Thúy Vân dùng từ “nhận lời” thì Thúy Vân có thể khước từ lời nhờ cậy, cô có thể giúp hoặc không giúp nhưng Thúy Kiều muốn em đồng ý giúp mình nên nàng đã đặt Vân vào hoàn cảnh mà cô chỉ có thể “chịu lời”. Với lời nói và lễ nghi như vậy, làm sao Thúy Vân có thể từ chối giúp đỡ.

Để em gái hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến sự nhờ cậy này, Thúy Kiều đã thuật lại câu chuyện của mình với Kim Trọng:

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề”

Có lẽ tình yêu ấy sẽ đơm hoa kết trái nếu không bị đứt gánh giữa đường. Có lẽ tình yêu ấy sẽ có một kết thúc tốt đẹp nếu gia đình Kiều không gặp phải gia biến, Kiều không phải trải qua mười lăm năm lưu lạc. Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư” chỉ mối tình của Thúy Kiều - Kim Trọng. Tình yêu vừa chớm nở chưa được bao lâu thì đã phải chịu sự lỡ dở. Có ai không đau xót cho sự dở dang của mối tình kim cổ đó. Tình duyên của bản thân không thành, đó có thể là “mối duyên thừa” đối với Thúy Vân nhưng Thúy Kiều vẫn “mặc em” chắp nối. “Mặc em” nhưng thực chất là nài nỉ, khẩn cầu em giúp đỡ. Biết rằng em gái sẽ khó xử nhưng nàng vẫn phó thác cho em, mong muốn em dùng keo loan để nối mối tơ duyên.

Nàng chia sẻ câu chuyện tình yêu của mình với Thúy Vân để cô có thể hiểu hơn về hoàn cảnh khó xử mà Thúy Kiều đang gặp phải. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm. Họ đã cùng nhau thề nguyền, đính ước. Các từ ngữ chỉ thời gian như “ngày’, “đêm” cùng sự lặp lại ba lần của từ “khi”: “khi gặp”, “khi ngày”, “khi đêm” đã cho thấy đó là một mối tình gắn bó sâu đậm. Chắc hẳn bạn đọc không quên đêm thề nguyền của Thúy Kiều và Kim Trọng:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song”

Tình cảm dành cho nhau phải vô cùng sâu sắc thì họ mới cùng nhau thề nguyền. Nhắc đến hình ảnh “quạt ước”, “chén thề” có lẽ Thúy Kiều đã không kìm được nỗi xót xa, tiếc nuối. Vầng trăng là chứng nhân cho lễ thề nguyền ấy vậy mà giờ đây nàng lại chính là người phụ tấm chân tình của chàng Kim. Đâu phải Thúy Kiều muốn như vậy. Đâu phải Thúy Kiều là con người bạc tình bạc nghĩa. Tai họa, sóng gió bỗng xảy đến bất ngờ, gia đình nàng bị thằng bán tơ vu oan, cha và em trai bị bắt. Để cứu cha và em thoát khỏi những đòn tra tấn tàn nhẫn của bọn sai nha, nàng đã quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh. Đọc đến dòng thơ này chúng ta mới có thể hiểu được nỗi khó xử của người con gái tài sắc ấy:

“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.

Là người con cả trong gia đình, đứng giữa chữ “hiếu” và chữ “tình”, Thúy Kiều đã lựa chọn chữ “hiếu” để làm tròn bổn phận của một người con. Cha mẹ đã có công sinh thành, dưỡng dục chẳng lẽ bây giờ khi gia đình gặp sóng gió nàng lại chạy theo tiếng gọi của tình yêu để bỏ mặc gia đình? Là một người con hiếu thảo, nàng không thể làm như vậy. Công ơn của cha mẹ phận làm con dùng cả cuộc đời để báo đáp cũng không thể trả hết. Thúy Kiều tự nhận thấy tấm thân của mình không đáng giá bằng công ơn của cha mẹ:

“Vẻ chi một tấm hồng nhan
Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành”

Sau khi giãi bày, tâm sự với Thúy Vân về mối tình với chàng Kim cũng là lúc nàng đưa ra những lời lẽ thuyết phục:

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Đối với Thúy Vân, những năm tháng tuổi trẻ của nàng vẫn còn dài rộng nhưng đối với Thúy Kiều thì những ngày xuân ngắn ngủi đã chấm dứt. Vì thế mà nàng lấy thời gian, “ngày xuân” ra để em thay mình giữ trọn lời thề non hẹn biển với chàng Kim. Để tăng thêm tính thuyết phục, Thúy Kiều còn nhắc đến tình máu mủ của chị em ruột thịt khiến Vân không thể từ chối lời khẩn cầu. Chỉ cần Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng thì dù cho Thúy Kiều ở nơi “chín suối” cũng mỉm cười vui vẻ:

“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Hai thành ngữ quen thuộc của dân gian “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được tác giả sử dụng linh hoạt và tài tình. Đó đều là các thành ngữ chỉ cái chết, chỉ cõi âm phủ tăm tối. Với Thúy Kiều, mạng sống của mình không quan trọng bằng việc trả nghĩa cho chàng Kim. Chỉ cần Thúy Vân “chịu lời” thì dù có ở cõi chết nàng cũng cảm thấy mãn nguyện. Dù không còn sống trên thế gian này nữa thì ơn nghĩa của Thúy Vân nàng sẽ không bao giờ lãng quên. Không chỉ là người con gái hiếu thảo với cha mẹ, Thúy Kiều còn là một người sống có tình có nghĩa, biết hi sinh vì người khác.

Với thể thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển trong từng câu chữ cùng các thành ngữ, hình ảnh ẩn dụ, Nguyễn Du đã thể hiện thành công tâm trạng của Thúy Kiều khi phải trao lại mối duyên tình cho em gái ở mười hai câu thơ đầu tiên. Bằng giọng thơ xót xa đầy đau đớn, tác giả đã khơi gợi được lòng cảm thương, đồng cảm của bạn đọc bao thế hệ dành cho người con gái “hồng nhan bạc phận”.

Có thể nói mười hai câu thơ đầu của đoạn trích “Trao duyên” đã khắc họa những tâm trạng dằn vặt, những giằng xé trong nội tâm nhân vật Thúy Kiều. Qua đó cũng thể hiện tiếng nói nhân đạo của nhà thơ khi lên tiếng tố cáo chế độ xã hội vì đồng tiền nên đã đẩy người phụ nữ rơi vào những bi kịch. Vì “sóng gió bất kì” mà Thúy Kiều phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Cũng vì sóng gió bất kì” mà nàng phải trải qua mười lăm năm lưu lạc. Đoạn thơ trên đã góp một phần không nhỏ vào sự thành công của đoạn trích “Trao duyên” nói riêng và tác phẩm “Truyện Kiều” nói chung, đồng thời nó cũng tạo nên những dư âm khó phai mờ trong lòng bạn đọc. 
 

3. Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên, mẫu số 3:

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-· 1820) tên chữ là Tố Như là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi của Nguyễn Du gắn liền với "Truyện Kiều", một trong những tác phẩm nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Được viết dựa trên cốt truyện của "Kim Vân Kiều truyện", "Truyện Kiều" phản ảnh sinh động xã hội thời đại của tác giả, một xã hội mục nát bất công, nhẫn tâm dồn ép nhân dân vào bước đường cùng. Tuy chỉ là một đoạn trích ngắn từ "Truyện Kiều", song "Trao duyên" vẫn thể hiện đầy đủ chủ đề của tác phẩm. Sống trong thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức, nhân vật chính Thúy Kiều bị ép phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em trai, phải từ bỏ tình cảm của mình với Kim Trọng, trao lại duyên tình dang dở ấy cho Thúy Vân dù trong lòng có bao nỗi đau xót. Điều đó được khắc họa rõ nét trong 12 câu thơ đầu của đoạn trích "Trao duyên":

"Cậy em em có chịu lời,
...
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."

Nhan đề đoạn trích là "Trao duyên" nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Trao duyên ở đây là gửi gắm tình cảm của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dở dang của mình. Thúy Kiều nghĩ đến Kim Trọng, nghĩ đến việc mình đã không giữ trọn lời đính ước với người yêu, băn khoăn thức trắng đêm nghĩ cách trả nghĩa cho chàng, cuối cùng đành nhờ cậy em là Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng.

cam nhan ve doan trich trao duyen

Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên có dàn ý

Mở đầu đoạn thơ là lời thỉnh cầu chân thành tha thiết của Kiều:

"Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa."

Nguyễn Du là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, điều đó có thể dễ dàng thấy được qua hai câu thơ trên. "Cậy" và "nhờ" đều có nghĩa là nhờ vả, xin sự giúp đỡ của một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ "nhờ", Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ "cậy", bởi vì từ "cậy" này có nghĩa là nhờ với tất cả sự hi vọng và tin tưởng, nét nghĩa này từ "nhờ" không thể hiện được. Cũng như vậy, thay vì từ "nhận", tác giả lại dùng từ "chịu" bởi vì khác với từ "nhận", từ "chịu" không chỉ thể hiện sự đồng ý, nhận lời mà còn kèm theo ý bắt buộc, khiến cho người được nhờ vả khó nói lời từ chối. Cách tác giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây là chuyện rất quan trọng đối với Kiều, nàng hi vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng có chút ép buộc. Tuy Kiều cũng hiểu việc nhờ Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng là hết sức vô lí, nhưng nàng vẫn quyết tâm muốn trả nghĩa cho người yêu, bỏ qua lẽ thường, nàng "lạy" và "thưa" đối với em mình. Kiều dùng chính lễ nghi lạy trước thưa sau, thay bậc đổi ngôi này để ràng buộc Vân. Trong tình thế vừa tình vừa lễ như vậy, Vân sao có thể không nhận lời?

Lạy xong, Kiều mở lời giải bày hoàn cảnh của mình với em, nói ra ý định muốn em kết duyên với Kim Trọng:

"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em."

Thành ngữ "đứt gánh tương tư" có ý chỉ tình yêu dang dở. Tình cảm của Kiều với Kim Trọng chưa kịp tới hồi viên mãn thì sóng gió đã ập tới, đành phải dở dang, Kiều đau khổ biết mấy, nhưng đành ngậm ngùi trao lại cho em. Nàng dùng điển tích về "keo loan" để thể hiện ý định muốn Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng. Không những thế, nàng cũng bày tỏ sự ray rứt đối với em, đem mối tình sâu đậm của nàng biến thành một mối "tơ thừa" giao phó cho Thúy Vân, "mặc" cho Thúy Vân định liệu.

Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về khiến nàng đau đớn khôn nguôi, nàng không dằn được lòng mình, tâm sự với em:

"Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề."

Từ "khi" được lặp lại ba lần gợi cho người đọc nghĩ đến tình cảm sâu nặng giữa Kiều với chàng Kim, nhớ đến những kỉ niệm đẹp của hai người. Với nghệ thuật liệt kê "ngày quạt ước", "đêm chén thề" những kỉ niệm đẹp đẽ ấy trở nên sống động hơn trong lòng Kiều. Những kí ức ấy vốn rất ngọt ngào, giờ đây khi nhớ đến lại trở thành một nỗi đau không thể nào nguôi trong lòng nàng, đặc biệt là khi nghĩ đến nguyên nhân của nỗi đau này:

"Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."

"Sóng gió bất kì" là khi Kim Trọng phải về quê chịu tang chú, gia đình Kiều lại bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, cách duy nhất để cứu họ là nàng phải bán mình, đồng nghĩa với việc nàng phải làm trái với lời hẹn ước trước kia với người yêu. Hoàn cảnh trái ngang quá, giữa hai lẽ "hiếu" và "tình", Kiều chỉ có thể chọn một. Nàng dằn vặt nội tâm, day dứt đau đớn, cuối cùng đành hi sinh tình yêu của mình để làm tròn chữ hiếu. Nàng tỏ nỗi lòng với Vân, dùng nỗi đau của mình để thuyết phục Vân, hy vọng em mình có thể thấu hiểu cho và chấp nhận yêu cầu của mình.

Đã tỏ bày nỗi lòng nhưng vẫn sợ Vân không đồng ý, Kiều lại dùng lí lẽ để thuyết phục em:

"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."

Để thuyết phục em, Kiều không tiếc viện đến tình máu mủ, cùng với cả cái chết. Các thành ngữ "tình máu mủ", "lời nước non", "thịt nát xương mòn" , "ngậm cười chín suối" được dùng đến trong bốn câu thơ trên thể hiện sự quyết tâm thuyết phục em cho bằng được của Kiều. Đối với nàng, việc trả nghĩa cho Kim Trọng còn quan trọng hơn cả mạng sống, chỉ cần Vân kết duyên với Kim Trọng, cho dù có chết đi thì Kiều cũng thấy được an ủi, mãn nguyện. Chính cách viện đến tình máu mủ và cái chết ấy đã khiến cho Vân chẳng thể nào từ chối lời khẩn cầu của nàng.

Với thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo kết hợp với nhiều biện pháp tu từ, sử dụng sáng tạo thành ngữ dân gian và kết hợp tài tình ngôn ngữ bác học với ngôn ngư bình dân , Nguyễn Du đã khắc họa rõ nét tâm trạng dằn vặt, đau đớn khi phải hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu của Kiều, khiến hình tượng của nàng trở nên đẹp đẽ hơn trong lòng người đọc. Đồng thời, qua tác phẩm ta còn có thể thấy được sự yêu thương, cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho nhân vật của mình.

Thông qua việc thể hiện nỗi đau của Kiều khi phải trao duyên tình dang dở của mình cho em, "Trao duyên" mang đến độc giả cái nhìn chân thực về thời đại của tác giả, một thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức, bị chính đồng tiền dồn ép tới đường cùng, không còn lối thoát. Chính giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc ấy mà đoạn trích, cũng như "Truyện Kiều" đã để lại trong lòng nhiều thế hệ độc giả ấn tượng sâu sắc.
 

4. Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên, mẫu số 4: 

Đại thi hào Nguyễn Du là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Truyện Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích "Trao duyên" đã nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy Kiều. Đặc biệt 12 câu thơ đầu như tiếng nấc uất nghẹn ngào:

"Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"

Nguyễn Du là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, điều đó có thể dễ dàng thấy được qua hai câu thơ trên. Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ "cậy" được sử dụng thật đặc sắc, là "cậy" chứ không phải "nhờ", người được "cậy" khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể thoái thác được và phải "chịu lời". Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như "thưa, lạy". Kiều muốn chuẩn bị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị:

"Hở môi ra những thẹn thùng
Đề lòng thì phụ tấm lòng với ai"

cam nhan 12 cau tho dau doan trich trao duyen

Bài Cảm nhận về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên hay nhất

Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ rất "đắt". Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du muốn diễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ "đơm hoa kết trái", mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽ được lâu bền lại cho Thúy Vân:

"Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em"

"Gánh tương tư" là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại "đứt gánh" còn đâu. Tình cảm của Kiều với Kim Trọng chưa kịp tới hồi viên mãn thì sóng gió đã ập tới, đành phải dở dang, Kiều đau khổ biết mấy, nhưng đành ngậm ngùi trao lại cho em. Chị hiểu em tuổi còn trẻ có thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân phải "chắp mối tơ thừa" của mình. Từ "mặc" sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiêm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân.

"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề"

Từ "khi" được lặp lại ba lần gợi cho người đọc nghĩ đến tình cảm sâu nặng giữa Kiều với chàng Kim, nhớ đến những kỉ niệm đẹp của hai người. Với nghệ thuật liệt kê "ngày quạt ước", "đêm chén thề" những kỉ niệm đẹp đẽ ấy trở nên sống động hơn trong lòng Kiều. Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.

----------------HẾT-----------------

Trao duyên là một trong những đoạn trích thể hiện rõ nhất tài năng khắc họa tâm lí của Nguyễn Du, qua đó ta thấy một nàng Kiều đau khổ, day dứt khôn nguôi khi quyết định trao duyên lại cho Thúy Vân để làm tròn bổn phận của một người con. Để hiểu hơn về đoạn trích, các em có thể tìm hiểu thêm: Soạn bài Trao duyên trích Truyện Kiều, Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên, Phân tích đoạn trao kỷ vật trong trích đoạn Trao Duyên, Cảm nhận về đoạn Trao duyên.

https://thuthuat.taimienphi.vn/cam-nhan-cua-em-ve-12-cau-tho-dau-trong-doan-trich-trao-duyen-42051n.aspx
 

Tác giả: Phí Quỳnh Anh     (3.6★- 48 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Thúy Kiều qua đoạn trích Trao duyên
Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật qua đoạn Trao duyên
Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên
Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ Trao duyên
Cảm nhận về đoạn Trao duyên
Từ khoá liên quan:

cam nhan cua em ve 12 cau tho dau trong doan trich trao duyen

, cam nhan doan trich trao duyen, cam nhan 12 cau dau trong bai trao duyen,

SOFT LIÊN QUAN
  • Phân tích bài thơ Sang thu

    Cảm nhận về bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh

    Phân tích bài thơ Sang thu là đề bài tập làm văn trong chương trình Ngữ Văn lớp 9 yêu cầu các em học sinh phải nêu cảm nhận của mình về nội dung bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh. Một số bài văn mẫu đề bài phân tích bài thơ Sang thu hay nhất được Taimienphi.vn tổng hợp dưới đây sẽ giúp các em học sinh lớp 9 có thêm nhiều ý tưởng mới cho bài làm tập làm văn của mình và đạt được điểm số cao.

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá