Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên

Những câu thơ đầu trong bài trao duyên là lời nhờ cậy chân thành, tha thiết của nàng Kiều với Thúy Vân. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên giúp các em hiểu được hoàn cảnh của buổi trao duyên, qua đó giúp cho việc phân tích đoạn trích Trao duyên và tìm hiểu về tâm trạng nàng Kiều khi trao duyên được sâu sắc hơn.

Đề bài: Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên

Mục Lục bài viết:
1. Dàn ý chi tiết
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3
5. Bài mẫu số 4
6. Bài mẫu số 5

phan tich 12 cau tho dau trong bai tho trao duyen

3 bài văn Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên
 

Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

I. Dàn ý Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên (Chuẩn)

1. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều
- Giới thiệu trích đoạn “Trao duyên” và nội dung 12 câu thơ đầu.

2. Thân bài

a. Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng ngôn ngữ và hành động (Hai câu thơ đầu)
- Tác giả Nguyễn Du đã chọn lọc từ ngữ chính xác, phù hợp với hoàn cảnh nhân vật
+ “Cậy”: tin tưởng mà gửi gắm hi vọng, nhờ vả tin cậy
+ “Chịu”: bị bắt buộc, thông cảm mà chấp nhận, gợi sự thiệt thòi của Thúy Vân.

- Bên cạnh ngôn ngữ, Thúy Kiều còn thuyết phục Thúy Vân bằng hành động: “Lạy” - “thưa”
--> Hé mở việc cậy nhờ rất hệ trọng và hàm ý sự biết ơn đến khắc cốt ghi tâm

b. Thúy Kiều tái hiện câu chuyện tình yêu đẹp đẽ của mình cùng chàng Kim trong quá khứ và hiện tại đổ vỡ, chia lìa (Sáu câu thơ tiếp theo)

- Mối tình Kim - Kiều sâu nặng, đẹp đẽ trong quá khứ:
+ Điệp từ “khi”
+ Từ chỉ thời gian: “ngày”, “đêm”
+ Hình ảnh ước lệ: “quạt ước”, “chén thề”

>> Xem chi tiết Dàn ý Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài Trao duyên tại đây.
 

II. Bài văn mẫu Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên


1. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên, mẫu 1 (Chuẩn)

Trong kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, đoạn trích “Trao duyên” thuộc phần hai của tác phẩm: “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi  vụ án oan sai đối với gia đình Thúy Kiều diễn ra, nàng buộc phải hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền cứu cha và em. Việc bán mình đã thu xếp xong xuôi, Kiều nghĩ đến thân phận và tình yêu, quyết định trao duyên cho Thúy Vân, nàng nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Đây là đoạn trích có vị trí đặc biệt, mang tính chất “bản lề”, đánh dấu sự kết thúc của cuộc sống “Êm đềm trướng rủ màn che” và báo hiệu sự mở ra kiếp đoạn trường mười lăm năm lưu lạc của Kiều. Nhan đề “Trao duyên” đã gợi ra được hoàn cảnh đặc biệt, mở ra nỗi lòng của nhân vật và bộc lộ nỗi đau của nhân vật. Đặc biệt, trong mười hai câu thơ đầu tiên, qua lời thuyết phục Thúy Vân nhận lời trao duyên, chúng ta có thể thấy được tâm trạng uất nghẹn cùng tình yêu sâu nặng và bi kịch tình yêu, thân phận của Thúy Kiều.

Để thuyết phục em nhận lời trao duyên, Thúy Kiều đã sử dụng những hành động và lời lẽ đặc biệt khác thường. “Trao duyên” vốn là một chuyện tế nhị, khó nói. Để mở lời câu chuyện hệ trọng này, tác giả Nguyễn Du đã tinh tế, khéo léo trong cách chọn lọc và sử dụng ngôn ngữ qua những động từ “cậy”, “chịu”, “lạy”. Trước hết, từ “cậy” thể hiện sắc thái tin tưởng, gửi gắm cùng sợ trông chờ tha thiết, bao hàm sự hi vọng, ủy thác và sự phó mặc. Dường như, Thúy Vân là niềm an ủi cuối cùng mà Thúy Kiều có thể cậy nhờ trước bi kịch tình yêu tan vỡ. Bên cạnh từ “cậy” là từ “chịu”, không chỉ đơn thuần thể hiện hàm ý của nghe lời, vâng lời mà còn ẩn chứa sự bắt buộc, thông cảm mà chấp nhận và gián tiếp gợi lên sự thiệt thòi của Thúy Vân. Thúy Kiều không chỉ khéo léo để thuyết phục Thúy Vân mà còn đặt mình vào vị trí của Thúy Vân để thấu hiểu rằng việc nhận lời trao duyên đồng nghĩa với việc Vân phải chịu thiệt thòi. Từ “chịu” đã gợi ra một hình ảnh nàng Kiều vị tha, sâu sắc, trong đau khổ tột cùng của bi kịch tình yêu vẫn nghĩ đến cảm nhận của người khác. Tác giả Nguyễn Du đã lựa chọn  từ ngữ chính xác, phù hợp với hoàn cảnh nhân vật để diễn tả ngôn ngữ, hành động của nhân vật: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Trong xã hội phong kiến xưa, “lạy” vốn là hành động thể hiện sự tôn kính của kẻ bề dưới đối với người bề trên, nhưng ở đây, Thúy Kiều là chị, là bề trên của Thúy Vân. Cái “lạy” tưởng chừng như trái với lẽ thường ấy lại gợi mở ra rất nhiều ý nghĩa sâu sắc: Thúy Kiều đã đặt mình vào vị trí của người chịu ơn, xem Thúy Vân là ân nhân của mình; đồng thời thể hiện sự tinh tế, sâu sắc của nàng. Đồng thời, qua cách ngắt nhịp, chúng ta có thể thấy được tâm trạng nghẹn ngào của Thúy Kiều trước biến cố. Nàng không chỉ là người quyết đoán, mà còn là người thấu tình đạt lí, thông minh, tinh tế, khéo léo.

Trong những câu thơ tiếp theo, Thúy Kiều đã tái hiện câu chuyện tình yêu đẹp đẽ của mình cùng chàng Kim trong quá khứ: 

“Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”

Chỉ với sáu câu thơ, tác giả Nguyễn Du đã khắc họa thành công câu chuyện tình yêu đẹp đẽ, dở dang cùng với những biến cố bất ngờ thông qua sự đối lập về không gian của quá khứ hạnh phúc và hiện tại đổ vỡ, chia lìa. Trước hết, nàng hồi tưởng lại những kí ức về tình yêu sâu nặng của “Người quốc sắc, kẻ thiên tài”. Điệp ngữ “khi” kết hợp từ chỉ thời gian không hạn định “ngày, đêm” đã tạo nên một dòng chảy kí ức ôm lấy tâm hồn của Kiều. Những kỉ niệm điểm xuyết, những hình ảnh ước lệ “quạt ước, chén thề” thể hiện tấm lòng  thủy chung, son sắt, thể hiện nàng đang sống lại với những kỉ niệm êm đềm, làm nổi bật một câu chuyện tình yêu sâu đậm, thiêng liêng. Nhưng đáng buồn thay, câu chuyện đó lại dang dở, bẽ bàng bởi bi kịch về số phận. Nàng đã quay trở về thực tại với những khổ đau ngang trái và ý thức sâu sắc về sự chia lìa. Các cụm từ “đứt gánh tương tư”, “sóng gió bất kì” như những nét cắt ngang đau đớn giữa quá khứ và hiện tại. Cơn gia biến ập tới, cuộc sống “Êm đềm trướng rủ màn che” dần lùi xa vào quá khứ, nhưng có lẽ, với Thúy Kiều, đau đớn hơn cả là nỗi đau “đứt gánh tương tư”. “Gánh tương tư” vốn để diễn tả tình yêu trai gái với nỗi nhớ, sự tương tư bồn chồn, khắc khoải, da diết. Nỗi niềm tương tư vốn là một sắc thái thể hiện tình yêu đẹp đẽ, gắn bó nhưng lại được kết hợp động từ “đứt” thể hiện sự gãy ngang, đổ vỡ, giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc nỗi đau dang dở của mối tình Kim - Kiều. Bên cạnh đó, điển tích về “keo loan” - thứ keo được làm bằng máu của chim loan, thể hiện sự gắn bó, khăng khít nhưng lại “chắp mối tơ thừa mặc em”. Thật đau đớn khi mối tình gắn bó, sâu sắc của Thúy Kiều lại trở thành mối “tơ thừa” của Thúy Vân. Mối tình Kim - Kiều dù thiêng liêng thì đối với Vân, đó cũng chỉ là “tình chị duyên em”. 

Không chỉ kể về câu chuyện tình yêu của mình, Thúy Kiều còn sử dụng lí lẽ để thuyết phục Thúy Vân:

“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

Cách diễn đạt của Thúy Kiều ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc, thấu tình đạt lí. Để thuyết phục em, Thúy Kiều đã gợi lên tình chị em gắn bó. Tính từ “xót” mang sắc thái đặc biệt, diễn tả mối quan hệ ruột rà cùng huyết thống, đồng thời chạm tới tình máu mủ thân thương để Vân đồng cảm, thấu hiểu. Phép đối “tình máu mủ” - “lời nước non” đã thể hiện tình cảm sâu nặng. Đồng thời, những thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” vừa gợi tả dự cảm về tương lai, vừa diễn tả về cái chết cùng sự cam lòng, mãn nguyện và thanh thản. Chỉ bằng bốn câu thơ, Kiều đã nêu lên những lí lẽ thấu tình đạt lí, lay động tâm can, lí trí và trái tim của Thúy Vân để em có thế gánh vác, san sẻ mối tình duyên dang dở của mình.

Như vậy, mười hai câu thơ khép lại nhưng gợi mở ra rất nhiều sắc thái cảm xúc. Bằng ngôn ngữ chọn lọc, cách nói khéo léo, chặt chẽ, thấu tình đạt lí, Thúy Kiều đã thuyết phục Thúy Vân bằng ngôn ngữ của lí trí và tình cảm. Ẩn chứa sau những lời nói điềm tĩnh, rạch ròi là nỗi đau về bi kịch tình yêu tan vỡ không thể kìm nén.
 

2. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên ngắn, mẫu số 2 (Chuẩn):

Chủ tịch Hồ Chí Minh - không chỉ là một người con vĩ đại của dân tộc mà khi nhắc đến cái tên ấy trong lòng mỗi người đều có những cảm xúc riêng. Bác không chỉ là một nhà chính trị tài ba lỗi lạc, một vị cha già giàu lòng nhân ái, yêu thương mà Bác còn nhà một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Tố Hữu từng viết:

"Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình"

Thật vậy, thơ Bác là sự kết tinh tình cảm của một trái tim lớn thiết tha với dân tộc. Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ như thế, tiêu biểu cho phong cách thơ của Người. Phải đặt bài thơ trong hoàn cảnh khi Bác đang bị bắt và giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo mới thấy được hết giá trị của nó.

 "Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây lơ lửng giữa tầng không"

Những buổi hoàng hôn thường mang dư vị buồn, bởi vậy, những con người xa quê mang nỗi nhớ da diết khi chiều tối lại càng thêm nhớ thêm thương. Cánh chim trên bầu trời kia sau ngày dài kiếm ăn mỏi mệt, bay nặng nề trên không trung về tổ ấm của mình để nghỉ ngơi. Chòm mây cũng nhỏ bé vô định giữa khoảng không bao la rợn ngợp. Chòm mây lơ lửng trôi nhẹ nhàng, bình yên đến vậy mà sao gợi nỗi buồn mênh mang. Phải chăng thiên nhiên ấy đang chất chứa nỗi lòng của người tù cách mạng đang một mình đơn độc giữa núi rừng bạt ngàn nơi đây, lấy cánh chim với đám mây kia làm người bạn tâm giao gửi gắm nỗi lòng. Thiên nhiên dường như mang hồn cốt nỗi lòng của thi nhân, có khi cũng mỏi mệt đó nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là khát khao trở lại quê hương như cánh chim kia tự do bay về tổ ấm của mình sau hành trình dài mỏi mệt.

"Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng"

 Nếu hai câu trên là khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, cô đơn, lẻ loi, thì hai câu cuối mang dáng dấp của sự sống con người. Bức tranh ấy được trọn vẹn và sống động hơn bao giờ hết. Cảnh vật và con người hoà quyện vào nhau. Giữa núi rừng ấy là hình ảnh người con gái xay ngô tối đầy tập trung, siêng năng, miệt mài. Bên ánh lửa giữa bầu trời đêm, cô gái hăng say làm việc. Một bức tranh sinh hoạt bình dị, đời thường mà khoẻ khoắn, gợi nét sinh động trong đời sống nhân dân. Giữa thiên nhiên bao la, cô em trở nên nổi bật và hấp dẫn lạ thường. Phải chăng đó là niềm mong ước của Bác gửi gắm vào những vần thơ về niềm tin vào một ngày đất nước hoà bình, nhân dân được bình yên, tự do lao động, tăng giá sản xuất chẳng còn nỗi lo mất nước.

“Xay hết lò than đã rực hồng”

Chữ "hồng” trở thành nhãn tự của bài thơ, chỉ một từ thôi mà nó chất chứa bao nhiêu ý nghĩa. Ánh than hồng xua tan đi màn đêm giá lạnh, xua tan nỗi cô độc của người tù nhân chốn xa xôi. Ánh than hồng là ánh sáng của cách mạng, là niềm tin vào tương lai, ánh than hồng chất chứa niềm hy vọng, sưởi ấm, thắp lên ngọn lửa tin yêu, lòng yêu nước thiết tha, hướng về sự sống, về ngày mai tốt đẹp. Ánh than hồng thật ấm áp, thân thương như tấm lòng Bác vậy.

 Bài thơ chỉ bốn câu thôi mà sao nhiều ý vị đến vậy. Từ trong gông cùm, trong đau thương nhọc nhằn, Bác vẫn không hề bi quan, chán nản mà trái lại rất lạc quan, luôn hướng đến niềm vui, hướng đến sự sống với bao hy vọng. Bác không ngại vất vả gian nan, quên đi đau khổ của thực tại mà viết nên những vần thơ quá đỗi đẹp đẽ và thương yêu.

Nếu trong văn chính luận, văn phong Bác sắc sảo, chắc chắn, giàu sức thuyết phục với những lý lẽ chính xác, khách quan thì trong thơ Bác lay động lòng người bởi sự bình dị mà sâu sắc. Sự kết hợp vô cùng nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cổ điển và nét hiện đại giúp thơ Bác mang một phong cách riêng, độc đáo, tài hoa. Đọc bài thơ “Chiều tối”, em càng thêm khâm phục Bác, càng trân quý tự do và hoà bình hôm nay. Và tự hứa với lòng, dù trong khó khăn thử thách của cuộc sống vẫn không nản chí, giữ vững tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng ngày ngày phấn đấu nỗ lực hơn để xứng đáng là thế hệ trẻ bản lĩnh, tài năng như cách sống của Người.

 

3. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên, mẫu số 3 (Chuẩn)

Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam về mảng ngôn từ, tác phẩm được mệnh danh là tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ nổi tiếng bậc nhất được xếp vào hàng kinh điển trong kho tàng văn học dân tộc, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của nhân dân Việt Nam ta từ bao đời nay. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm với tổng cộng 3254 câu thơ lục bát, nội dung kể về cuộc đời lắm truân chuyên của nàng Thúy Kiều với 15 năm lưu lạc chốn phong trần. Sở dĩ tác phẩm được xếp vào hàng kinh điển bởi vì nó chứa đựng nhiều những giá trị nhân văn nhân đạo sâu sắc cùng với những giá trị hiện thực của tác phẩm, thương xót và đồng cảm cho thân phận của người phụ nữ, đồng thời phát hiện và đề cao vẻ đẹp cả về ngoại hình và tâm hồn của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến còn nhiều bất công. Đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều là một trong những trích đoạn xuất sắc và thú vị, diễn tả một trong những nỗi đau lớn nhất cuộc đời của Thúy Kiều, nỗi đau từ bỏ tình yêu đầu đời, bán mình chuộc cha, mở ra bước ngoặt lớn đầy biến động trong cuộc đời nàng. Trong đó 12 câu thơ đầu, diễn tả nỗi dằn vặt khổ sở của Kiều khi phải dứt tình trao duyên cho em gái.

Sau biến cố của gia đình, cha và em Thúy Kiều bị bắt và bị hành hạ tra tấn dã man, đòi buộc gia đình Kiều phải đưa ra một khoản tiền lớn thì mới cho thả người. Thế nhưng vốn dĩ của cải của gia tộc đã bị vơ vét bằng hết, nhà chỉ còn lại mấy mẹ con Thúy Kiều, không còn cách nào khác Thúy Kiều đành phải bán mình làm vợ lẽ cho một kẻ là Mã Giám Sinh để lấy tiền chuộc cha. Việc này khiến Kiều vô cùng đau khổ, không chỉ vậy bán mình làm lẽ cũng đồng nghĩa với việc Kiều phản bội lại lời thề nguyền với Kim Trọng. Vì muốn vẹn toàn đôi đường, Kiều đành nén đau nhờ cậy Thúy Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim Trọng trong đau khổ và day dứt vô cùng. 

Ở hai câu thơ đầu tiên: “Cậy em em có chịu lời/Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”, Kiều rõ ràng thấu hiểu được rằng việc nhờ cậy này là vô cùng khó khăn không chỉ với nàng mà với cả Thúy Vân, việc bắt ép em gái lấy người mình không yêu là một việc khó có thể mở lời. Thế nên Thúy Kiều đã hết sức cẩn thận, e dè lựa chọn ngôn ngữ thật tinh tế để đưa Thúy Vân vào thế khó, khiến nàng không thể chối từ. Kiều dùng từ “cậy” mà không phải từ “nhờ” bởi từ này vốn vừa có nghĩa là nhờ vả, thì nó còn bộc lộ sự tin tưởng, lòng hy vọng khẩn thiết mà Thúy Kiều gửi gắm, nó cũng thể hiện cả cái nỗi khó xử, đớn đau trong lòng Kiều. Với hai từ “chịu lời”, càng thể hiện rõ sự tinh tế của Kiều trong cách dùng từ, ở đây hai từ này đã thể hiện sự thấu hiểu, thông cảm của Kiều đối với vị trí của Thúy Vân, nàng hiểu rõ rằng chuyện trao duyên này là chuyện khá khó xử và vô cùng miễn cưỡng, có lẽ rằng Thúy Vân sẽ khó lòng mà chấp nhận được. Rõ ràng rằng, Thúy Vân không hề yêu Kim Trọng, phải lấy người mình không có tình cảm vốn đã là chuyện khó khăn, hơn thế nữa Kim Trọng lại còn là tình lang cũ của chị gái, chắc chắn rằng cuộc sống của Vân sẽ không bao giờ có được hạnh phúc trọn vẹn, bởi chàng Kim hễ nhìn đến Vân thì cũng nghĩ ngay đến Kiều. Và quả thật trong suốt 15 năm cuộc đời của Kim Trọng, chàng vẫn luôn tìm Kiều, thử hỏi rằng cảm nhận của Vân liệu được thấu hiểu bao phần? Quả thật đó chính là nỗi bi ai lớn nhất cuộc đời của người phụ nữ dù là xã hội phong kiến hay hiện đại. Tuy Kiều thấu hiểu hết mọi điều, nhưng cớ sự không cho phép nàng nhân nhượng hay dừng lại, Kiều là người hiểu lễ nghi, biết bản thân làm con trước phải trọn hiếu, thế nhưng một bên tình nàng vẫn phải trọn nghĩa, cuối cùng nàng đành chọn cách ích kỷ, trở thành người xấu xa khi dồn ép em gái phải nhận lời trao duyên để vẹn toàn, nghĩ cũng thật đáng thương vô cùng. Và nếu xét lại thì so với cuộc đời 15 năm sóng gió, đau thương tủi nhục của Kiều thì việc Thúy Vân nhận lời trao duyên, thành vợ chồng với Kim Trọng thay chị cũng coi như là gánh vác một phần trách nhiệm với gia đình. Câu chuyện trao duyên khiến Kiều vô cùng đau khổ và xót xa, nàng vốn không biết phải mở lời sao cho hợp lẽ, đành chọn cách “lạy-thưa”, nghe thì có vẻ bất hợp lý thế nhưng trong trường hợp này, Kiều là người phải xuống nước, đồng thời cũng cần buộc Thúy Vân nhận lời thế nên hai từ “lạy-thưa” ấy vừa hay đem đến hiệu ứng đặc biệt. Từ mối quan hệ chị em, Thúy Kiều đã chuyển nó thành mối quan hệ giữa ân nhân và người chịu ơn, thể hiện sự tôn trọng, tấm lòng khẩn cầu tha thiết dành cho Vân, mong nàng có thể dễ dàng chấp thuận hơn.

Sau lời dạo đầu đưa Thúy Vân vào thế không thể chối từ, Thúy Kiều bắt đầu giãi bày mối tình của mình với Kim Trọng, bộc lộ nỗi đớn đau xót xa trong lòng nàng, đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng của nàng dành cho mối tình này.

“Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”

Kiều với Kim Trọng không phải là mối tình mới chớm mà thực tế nó đã đến mức sâu nặng, khi cả hai đã cùng nhau tự đính ước chung thân, trao tay nhau chiếc “quạt ước” hẹn chuyện trăm năm, rồi lại cùng uống “chén thề” nguyền một đời có nhau dưới ánh trăng tươi đẹp. Mà trong xã hội phong kiến việc nam nữ trao nhau vật đính ước, lại cùng thề nguyện thì coi như đã định chung thân, vốn là chuyện thiêng liêng gắn bó, không thể nói dứt là dứt, vậy thì chẳng khác nào kẻ bạc nghĩa, là việc làm của kẻ thất phu. Thế nên đối với Thúy Kiều đây là việc hệ trọng khiến nàng day dứt và trắng đêm suy nghĩ sao cho vẹn toàn. Việc Kiều từ bỏ tình yêu, trao duyên lại cho em gái cũng là xuất phát từ nỗi bất đắc dĩ, nàng đã bán thân làm lẽ dĩ nhiên chẳng thể đáp nghĩa Kim Trọng, tất cả cũng chỉ vì cái gọi là ““Sự đâu sóng gió bất kỳ” mà một thiếu nữ 14, 15 như Kiều chẳng kịp trở tay. Thúy Kiều bị đặt trong sự mâu thuẫn gay gắt và khó giải quyết “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”, rồi cuối cùng xét mãi, Kiều vẫn chọn đạo hiếu làm đầu, ngậm đắng cay chối từ tình yêu, nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng còn mình thì hy sinh hạnh phúc, hy sinh bản thân để cứu cha, cứu em. Kiều bị chìm trong mối day dứt, đớn đau vì tình yêu tan vỡ, vì nỗi tiếc nuối cho mối tình “đứt gánh giữa đường”, nghĩa mà xót xa cho thân phận tài hoa bạc mệnh của nàng.

Cuối cùng Kiều đã chọn cách vẹn toàn nhất là mở lời cậy nhờ trao duyên cho em gái “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”, câu thơ vừa thể hiện sự buông bỏ trong lý trí nhưng cũng kín đáo bộc lộ nỗi đau xót trong lòng Kiều. Không chỉ vậy mấy từ “mối tơ thừa” cũng là tấm lòng thương cảm của Kiều dành cho Vân, bởi phải chấp nhận mối duyên thừa của chị, phải thay chị trả nghĩa, không có quyền lựa chọn cho mình một mối tình trọn vẹn. Nhưng rồi chuyện gia biến, không để Kiều có thể cân nhắc vẹn toàn tất cả, đành phải “mặc em”, cũng để Thúy Vân gánh vác một phần nào đó, mặc dù nàng thấu hiểu rằng “Ngày xuân em hãy còn dài”, biết rằng nếu như không có cuộc trao duyên này ắt hẳn Thúy Vân rồi cũng sẽ tìm được một đức lang quân như ý, chứ không phải là chôn vùi cuộc đời bên trách nhiệm trả nghĩa cho chị. Thế nhưng, Kiều đã nắm chắc rằng Vân sẽ không từ chối, không thể từ chối được vì ít nhiều nàng cũng “Xót tình máu mủ thay lời nước non” để giúp Kiều vẹn toàn chữ nghĩa. Chỉ có thế Kiều mới có thể “Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”, bộc lộ sự biết ơn của nàng dành cho Thúy Vân, đồng thời là những dự cảm không lành về bước đường tương lai, nhưng ít nhiều nàng cũng đã yên lòng vì vẹn toàn cả chữ hiếu lẫn chữ tình, dẫu có bề gì cũng không còn tiếc nuối.

Như vậy thông qua 12 câu thơ đầu của đoạn trích Trao duyên ta có thể nhận thấy những nỗi đau thương đầu tiên trong cuộc đời bạc mệnh của Thúy Kiều, dự cảm về một tương lai đầy sóng gió của nàng. Bên cạnh đó thông qua cảnh trao duyên ta có thể nhận ra sự khéo léo, thông minh của Thúy Kiều, giải quyết tình huống trong viễn cảnh khó khăn nhưng vẫn thỏa nguyện. Đoạn trích cũng đem đến cho độc giả sự thương cảm, xót xa cho cuộc đời của Thúy Kiều, nỗi khốn khổ khi phải dằn vặt bản thân trước chữ hiếu và chữ tình.

 

4. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên, mẫu số 4 (Chuẩn):

Cuộc đời chìm nổi của những người phụ nữ phong kiến xưa đầy đau thương, họ phải trải qua bao bi kịch đau đớn. Thân phận của nàng Kiều trong "Truyện Kiều" là một ví dụ tiêu biểu cho số kiếp truân chuyên, bất hạnh của những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. Trong cuộc đời "đoạn trường", nàng Kiều đã có mối tình đẹp với chàng Kim, những tưởng sẽ đơm hoa trái ngọt ngào lại phải lỡ dở, dây tơ hồng của mỏng manh chẳng thể chắp nối mối lương duyên vẹn tròn. Đoạn trích "Trao duyên" trong tác phẩm đã cho thấy rõ những day dứt, đớn đau, tủi hờn của nàng Kiều khi buộc phải trao gửi duyên mình cho em gái. Mười hai câu đầu bài thơ được viết nên thật xúc động:

" Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"

Bằng tất cả tấm lòng mình, Kiều đã nhờ "cậy" đến em, không biết rồi em có chịu lời không nhưng chị vẫn đặt hết niềm tin vào lời ấy. Từ "cậy", cất lên nghe sao xót xa mà thương cảm quá, dường như, bao nhiêu nỗi hy vọng , mong chờ và sự tin tưởng chị đều nhờ đến Vân. Tiếng "chịu" như sự nài nỉ, van lơn lại vừa như đặt Vân vào thế không thể từ chối lời nhờ cậy ấy. Dù mình là chị, dù theo thứ bậc Kiều là phận trên nhưng trước tình cảnh trớ trêu này, Kiều đã chọn cách "lạy" và "thưa" em mình, bởi biết nói làm sao được ân tình lớn lao, sự hy sinh mà Vân phải chấp nhận khi lời cậy nhờ của Kiều nói ra. Lúc này đây, trong trái tim Kiều biết bao đau đớn, xót xa, tình yêu dành cho Kim quá lớn mà số phận lại hết sức trớ trêu, nàng không thể thực hiện lời thề nguyền cùng chàng Kim. Không còn cách nào khác để làm vẹn tròn tình nghĩa, Thúy Kiều đau khổ mà nhờ đến Thúy Vân- người duy nhất mà nàng Kiều tin tưởng rằng có thể thay mình nối tiếp mối lương duyên dang dở với chàng Kim. Chỉ hai câu thơ ấu thôi mà ta thấy được một con người đầy tinh tế và sâu sắc nơi Kiều.

Sau khi mở lời, Kiều tâm sự những nỗi niềm của cuộc tình mình với chàng Kim:

"Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em".

Gánh tương tư nặng lòng đến vậy mà lỡ "đứt gánh" sao không khỏi đắng cay. Vì chữ "hiếu" Kiều đành chấp nhận bán mình, chữ "tình" Kiều cũng không muốn bội bạc, đành ngậm ngùi:

" Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em"

Hơn ai hết, Kiều hiểu được rằng Vân sẽ chịu rất nhiều thiệt thòi khi đáp ứng lời nhờ cậy này của nàng . Với Kiều, chàng Kim là mối duyên tốt đẹp, là mối tình mơ ước của cả đời nàng nhưng với Vân đó chỉ là "mối tơ thừa" mà thôi, nhưng biết làm sao được, chị đành phó mặc nơi em định liệu, ủy thác nơi em, tin rằng em sẽ hiểu cho lòng xót xa nơi chị. Lời thì đã nói, duyên thì đã trao, vậy mà bao kỉ niệm thiết tha, hạnh phúc bên người yêu của ngày xưa cứ chực chờ, trào dâng trong tiềm thức nàng, rồi Kiều nghẹn ngào tâm sự:

"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề."

Khi gặp gỡ Kim Trọng cũng là lúc tình yêu trong nàng chớm nở, "tình trong như đã mặt ngoài còn e", Kim Trọng đã đến và mang cho Kiều bao hạnh phúc, vui vầy, đêm tâm giao nâng chén rượu thề nguyền, lời ước thề còn vẹn nguyên. Điệp từ "khi" càng thể hiện hơn nỗi da diết, nhớ thương và cả niềm tiếc nuối nơi Kiều. Vân chưa hề biết mối tình của Kiều với Kim, bởi vậy mà Kiều lựa chọn cách tâm sự cùng em cũng mong rằng Vân sẽ hiểu được những yêu thương và sự trân trọng tình yêu của nàng, để em thấu cảm cho mình lúc này.

" Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai'

Tình yêu chưa hạnh phúc được bao lâu, thì gia đình gặp sóng gió. Chữ Hiếu, chữ tình làm sao để "hai bề vẹn hai'. Đó là nỗi đau dứt khôn nguôi. Vì gia đình Kiều đành lỡ mối keo loan, nhưng cũng không thể buông bỏ, dứt lòng với người thương được, để trọn vẹn đôi bề Kiều mong Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim, dẫu đớn đau, dẫu biết tình yêu vốn là điều không thể miễn cưỡng nhưng Kiều nói lên lòng mình để mong Vân chấp nhận lời thỉnh cầu ngang trái ấy. Phải chăng, Vân cũng hiểu được tấm lòng, sự đau khổ giày xé nội tâm can chị mà nàng im lặng, nghe chị tiếp lời:

"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."

Kiều đưa ra những lời lẽ đầy thấu tình để thuyết phục Vân. Ít ra thì so với chị, thanh xuân của em vẫn còn nhiều, tuổi em đang trẻ. Còn chị đây, khi đã chấp nhận bán mình, thì tuổi xuân cũng sẽ chẳng còn, bao nhiêu sóng gió phía trước còn chưa biết. Thậm chí Kiều đã nói đến cái chết để Thúy Vân có thể hiểu thấu được tâm nguyện thiết tha mà đau đớn nơi nàng. Tất cả những lý do ấy khiến Vân khó lòng chối từ lời trao duyên, Vẫn sẽ hiểu càng thêm hiểu, càng quý và thương chị nhiều hơn.

Chỉ với 12 câu thơ thôi mà quá đó ta thấy được ở Kiều một trái tim thiết tha, chung thủy với tình yêu, một tấm lòng hiếu thảo với những đấng sinh thành cao quý. Sâu thẳm trong tâm hồn ấy là nỗi đau, nỗi day dứt và đắng cay khôn nguôi khi cuộc tình thanh xuân không trọn vẹn nơi Kiều. Đoạn trích "Trao duyên" chính là một nốt nhạc đau thương của bản tình ca đẹp mà buồn thương Kim- Kiều khiến ai đã từng lật những trang sách viết về cuộc đời nàng cũng phải ngậm ngùi thổn thức cho một bi kịch tình yêu đầy ngang trái.


5. Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên, mẫu số 5 (Chuẩn)

Nhắc đến văn học trung đại Việt Nam, người ta sẽ nhớ ngay đến "Truyện Kiều" của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. 3254 câu thơ với nhiều đoạn trích khác nhau, mỗi đoạn trích lại gửi gắm những giá trị vô cùng sâu sắc. "Trao duyên" là một trong những đoạn trích tiêu biểu của "Truyện Kiều", tái hiện bi kịch tình yêu dang dở của Thúy Kiều và Kim Trọng. Qua đó gửi gắm giá trị nhân văn sâu sắc và khát khao hạnh phúc của con người. Điều này thể hiện rõ nhất qua 12 câu thơ đầu đoạn trích:

" Cậy em, em có chịu lời,
...
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"

Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau, đem lòng cảm mến rồi quyết định thề nguyền dưới trăng. Tình yêu của họ là duyên phận tác hợp. Duyên phận vốn dĩ là thứ tốt đẹp trời cho, khó cưỡng cầu, càng không nên ép buộc. Thế nhưng, dòng đời xô đẩy, Kiều quyết định "trao" lại mối duyên này. Đoạn trích mở ra nghịch cảnh đầy trớ trêu, chua xót:

“Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”

Hai câu thơ ngắn gọn mà chất chứa bao đau đớn, dằn vặt. Từ “cậy” được đặt lên đầu câu thơ nhấn mạnh tình cảnh khó xử, ngặt nghèo của Thúy Kiều. "Cậy" mang ý nghĩa gần giống như "nhờ", là hành động mong muốn được giúp đỡ. Nhưng "cậy" lại sâu sắc hơn, thể hiện niềm tin tưởng vào người được nhờ. Tương tự “chịu” giống như “nhận” là đồng ý, nhưng "chịu" mang thái độ tình cảm khẩn thiết, gần như là van nài, đặt người được nhờ vào tình thế khó lòng từ chối. Ngôn ngữ Kiều dùng trong lời nói hết sức khéo léo, chân thành. 

Không những vậy, lời nói ấy còn đi cùng với hành động "lạy", "thưa". "lạy" "thưa" vốn là hành động kính trọng của người bề dưới với bề trên. Kiều là chị, Vân là em, nhưng thời điểm này Kiều lại làm như vậy. Những việc làm tưởng như nghịch lý khó hiểu lại mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Nàng không muốn phụ Kim Trọng, nhưng cũng hiểu được nhờ em trả nghĩa thay mình, nối tiếp mối duyên này là bất công và thiệt thòi cho em. Vì thế, Kiều cúi mình trước Vân. Vào lúc này, Kiều đứng ở vị thế của người chịu ơn với người giúp đỡ mình mà không phải vị thế người chị với em gái. Điều này thể hiện sự thấu tình đạt lý khéo léo của nàng.

Trao duyên với Kiều không phải việc gì quá dễ dàng. Nàng mở lời cậy nhờ em rồi thật lòng tâm sự, giãi bày, mong muốn Thúy Vân thấu hiểu, thông cảm và nhận lời:

“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.”

Trong nỗi đau xót, bao kỉ niệm tình yêu tươi đẹp ùa về. Nhưng hiện thực trêu người, thành ngữ “đứt gánh tương tư” nhấn mạnh nỗi đau tình yêu dang dở. Mối tình tốt đẹp với chàng Kim chưa kịp viên mãn đã bị sóng gió ập đến ngăn trở. Kiều đau khổ nhưng phải dằn lòng lại, trao gửi cho Vân. Nàng dùng điển tích “keo loan” thể hiện ý định muốn Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng. Đồng thời nàng cũng bày tỏ sự áy náy, day dứt khi đem tơ duyên của mình trở thành "tơ thừa" mặc em chắp nối.

Từ “khi” được lặp lại 3 lần gợi nhắc khoảng thời gian tươi đẹp, nhấn mạnh mối duyên tình sâu đậm với chàng Kim. Từ đó khắc sâu nỗi đau khổ, xót xa trong tâm trạng của Kiều khi nói ra những lời này. Nàng đau đớn bởi tình yêu tan vỡ, đồng thời cũng xót xa cho thân phận trớ trêu của chính mình.

"Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"

Quá khứ tươi đẹp quý giá nhưng hiện tại vô vàn khắc nghiệt. Lời thề nguyền dưới trăng vẫn còn đó nhưng tai họa ập đến, Kiều buộc phải bán mình chuộc cha và em. Giữa chữ tình và chữ hiếu, Kiều buộc phải đưa ra quyết định. Tình yêu đẹp đẽ vừa chớm nở, chưa kịp thành hình đã bị tan vỡ, trái tim nàng đau đớn vô cùng. Nàng hết lòng thuyết phục Vân, mong em hiểu và chấp nhận lời thỉnh cầu ngang trái:

"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"

Thúy Kiều đã khéo léo đưa ra ba lý lẽ. Trước hết là Vân còn trẻ, tuổi xuân còn dài. Thứ hai là tình chị em máu mủ ruột thịt. Cuối cùng là cái chết của bản thân. Từng lời lẽ đều thể hiện quyết tâm thuyết phục em của Thúy Kiều. Kiều đã chọn chữ hiếu, nhưng tình nghĩa của chàng Kim rất quan trọng. Kiều kìm nén đau thương, thua thiệt của bản thân. Nàng chấp nhận thịt nát xương mòn, chỉ mong Vân giúp mình nối duyên với Kim Trọng. Sâu trong tâm hồn đang vụn vỡ của Kiều là nỗi đau phụ bạc Kim Trọng và mong muốn bù đắp mãnh liệt cho chàng. Lời thuyết phục Vân của Kiều vô cùng chân thành, cảm động.

Chỉ với 12 câu thơ, Nguyễn Du đã thành công sử dụng thể thơ lục bát cùng những ngôn từ tinh tế. Qua đó khắc họa được bi kịch nghiệt ngã của Thúy Kiều cùng tâm trạng đau đớn, dằn vặt của nàng. Ngòi bút tài hoa cùng tấm lòng nhân đạo của tác giả đã tái hiện đầy xúc động nội tâm nhân vật. Không chỉ bộc lộ sự khéo léo thông minh mà còn ngợi ca tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều.

12 câu thơ cùng đoạn trích "Trao duyên" từ đó đã góp phần không nhỏ làm nên giá trị đặc sắc của "Truyện Kiều". Để rồi bao năm tháng trôi đi, "Truyện Kiều" vẫn sống mãi trong lòng người đọc, trở thành niềm tự hào văn học của cả dân tộc Việt Nam.

------------------HẾT---------------------

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-12-cau-tho-dau-trong-bai-tho-trao-duyen-53628n.aspx
Để hiểu được tâm trạng đau khổ, bế tác của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, bên cạnh bài Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài thơ Trao duyên, các em học sinh có thể tham khảo thêm các bài văn hay lớp 10 như:, Cảm nhận về đoạn trích Trao Duyên, Phân tích đoạn trích Trao duyên, Bình giảng đoạn Trao duyên trích trong Truyện Kiều, Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ Trao duyên, Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật qua đoạn Trao duyên.

Tác giả: Trần Quốc Anh     (4.0★- 3 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Dàn ý phân tích bài thơ Trao duyên, mẫu số 5
Dàn ý phân tích bài thơ trao duyên, mẫu số 1
Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ Trao duyên
Dàn ý phân tích đoạn thơ "Dù em nên vợ nên chồng" đến hết đoạn Trao duyên
Hãy phân tích đoạn thơ từ câu "Dù em nên vợ nên chồng" đến hết đoạn Trao duyên
Từ khoá liên quan:

Phan tich 12 cau tho dau trong bai tho Trao duyen

, Phan tich 12 cau tho dau trong bai tho Trao duyen ngan gon,

SOFT LIÊN QUAN
  • Phân tích bài thơ Mây và sóng

    Để học tốt ngữ văn lớp 9

    Những mẫu văn Phân tích bài thơ Mây và sóng dưới đây sẽ là những gợi mở và định hướng quan trọng cho các em học sinh trong quá trình em tìm hiểu và phân tích nội dung, nghệ thuật tác phẩm thơ ca đặc sắc về tình mẫu tử thiêng liêng của đại thi hào Ấn Độ R.Ta-go này.

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá