Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Các bạn cùng phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương để thấy được tình thương yêu, quý trọng người vợ của người chồng Tú Xương đồng thời hiểu hơn về nỗi lòng tâm sự, những bất lực, ngao ngán về chính mình, về thời cuộc của nhà thơ.

Đề bài: Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
phan tich hai cau tho cuoi bai tho thuong vo cua tran te xuong

 

Phần 1: Dàn ý Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Xem chi tiết Dàn ý Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương tại đây
 

Phần 2: Bài văn mẫu Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Bài làm:

Trần Tế Xương (1870-1907), thường hay gọi là Tú Xương, quê ở Nam Định, sinh thời là người học rộng tài cao, có chí nhưng lại không gặp may mắn trong con đường công danh. Vì bất đắc chí trong chuyện học hành thi cử nên ông Tú thường lấy việc sáng tác văn chương làm thú vui để đỡ đi nỗi chán chường, day dứt. Thơ văn của ông là sự kết hợp, lồng ghép giữa các yếu tố trữ tình, trào phúng và hiện thực sâu sắc, đôi lúc người ta thường ví đôi mắt nhìn của ông Tú và những tác phẩm của ông chính là cuốn nhật ký đặc sắc về một thời đại mà xã hội rối ren Tây, Tàu, Ta lẫn lộn. Với cuộc đời ngắn ngủi chỉ khoảng 37 năm trời thế nhưng Tú Xương đã để lại một sự nghiệp thơ ca khá đồ sộ với 100 tác phẩm, ấn tượng hơn cả là trong số những tác phẩm ấy ông đã dành hẳn một đề tài để viết người vợ tào khang - bà Tú. Trong số đó, bài thơ Thương vợ là một trong những tác phẩm đặc sắc và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú, tình cảm ấy được bộc lộ một cách chân thực và rõ nét nhất là ở hai câu kết tự như lời "chửi" của bài thơ "Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/Có chồng hờ hững cũng như không".

Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu về đề tài trữ tình của Tú Xương, thơ xưa dưới quan niệm phong kiến cổ hủ, trọng nam khinh nữ thường hiếm có các tác phẩm viết về người vợ, người phụ nữ. Phái nam nhân thường thường giam mình trong một lối mòn suy nghĩ rằng người vợ phải tam tòng tứ đức, đã theo chồng thì việc chịu gian khó, cực nhọc hầu hạ, nâng túi sửa khăn cho người chồng đã là điều đương nhiên, có mệt có khổ âu cũng là thường tình, không việc gì phải trăn trở, thay vào đó cái họ trăn trở thường cao xa, vượt khỏi cuộc sống tầm thường. Nhưng đến Tú Xương thì lại khác, không phải vì ông vô công rỗi nghề, vì ăn lương vợ mà ông phải viết thơ, viết văn để ca ngợi vợ, mà chính xuất phát từ tình yêu thương và lòng trân trọng vô hạn của một người chồng dành cho người vợ tào khang của mình. Xuất phát từ ý thức về cuộc đời, ý thức về những nỗi vất vả gian lao của vợ, mà cái cuộc đời khốn nạn đã không cho ông có thể san sẻ với bà Tú, để cả gia đình với bảy miệng ăn đè nặng lên đôi vai một mình bà Tú. Phải công nhận rằng, Tú Xương có một gia tài thơ ca đồ sộ đến hơn trăm bài như thế, một phần lớn nhà nhờ công lao của vợ ông, ông có thể thiếu may mắn trong con đường công danh, thế nhưng trái lại ông trời đã cho ông một người vợ thảo hiền hết mực, bà tôn trọng, thương yêu, hy sinh vì chồng con hết mực. Dẫu áp lực cơm áo đang trĩu nặng trên vai nhưng bà Tú cũng không muốn chồng mình rời khỏi nghiệp bút nghiên để lao vào cuộc sống lao động vất vả, bà vẫn muốn ông là một tú tài được thỏa sức với nghiệp văn chương, không phải chịu nhiều gian khó. Tấm lòng ấy của vợ, Tú Xương nhìn thấy một cách rõ ràng, ông không vô tình gạt sang một bên hay giấu giếm ở trong lòng để giữ tự tôn của một người đàn ông phong kiến, mà trái lại ông đưa hết những tình cảm ấy vào thơ văn của mình, bằng ngôn từ giản dị, chân thực, đôi lúc có chỗ đanh đá, chua ngoa, nhưng đó lại mới đúng là đặc sắc thơ văn Tú Xương, trữ tình, hiện thực và trào phúng luôn đan xen với nhau.

Hai câu cuối trong bài Thương vợ của Tú Xương, đích xác nghe giống một câu "chửi".

"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không"

"Cha mẹ" ở đây không phải có ý trách móc gì phụ mẫu, chẳng qua là Tú Xương thương vợ khổ cực quá, ông tức cho cái thói đời nhiễu nhương rối loạn, không cho nổi ông một con đường công danh sáng lạn, không để ông vung hết cái tài của mình, mà bấy nhiêu lâu thi thố cũng chẳng ăn ai, vẫn chỉ một kiếp tú tài bé con. Giá như thời buổi Nho học còn thịnh, cỡ tú tài cũng khấm khá, cũng có thể gõ đầu vài lớp trẻ, thế nhưng đời bạc, phận cũng bạc theo ông lại sinh ra đúng cái buổi Tây, Tàu trà trộn làm bát nháo đi cái nề nếp văn hóa lâu đời của đất nước. Xã hội phong kiến suy tàn, Nho học suy tàn, những bậc trí thức đương thời cũng chán chường lui về chốn thôn quê, không màng thế sự, bởi khi ấy đạo đức xã hội xuống cấp, đồi bại, nhân cách con người biến dạng, họ sẵn sàng vứt bỏ liêm sỉ, đạo đức chà đạp lên nhau mà chuộc lợi, ăn sung mặc sướng. Còn những người có tâm, có tài như Tú Xương lại phải chịu cái kiếp để bọn ô hợp đè đầu cưỡi cổ, phải chịu cảnh lực bất tòng tâm. Thử hỏi có thể không uất ức, không buông một tiếng chửi cái "thói đời ăn ở bạc" được hay không?

Tiếng chửi đời ấy, cũng là tiếng tự chửi mình của Tú Xương, ông tự trách mình bất tài, vô dụng không thể san sẻ bớt gánh nặng cho vợ, mà chỉ biết làm một người chồng ngày ngày ăn lương vợ, giương mắt nhìn vợ mình chịu biết bao khó nhọc. Như vậy bà Tú đúng như lời Tú Xương nói "Có chồng hờ hững cũng như không", dưới chế độ phong kiến, đạo lí vẫn là người chồng gồng gánh việc mưu sinh, là trụ cột của cả gia đình, còn người vợ có trách nhiệm tề gia nội trợ, nuôi dạy con cái, thượng đế sinh ra đàn ông và đàn bà thực tế cũng đã có ý như thế rồi. Thế nhưng trong gia đình của Tú Xương thì lại khác, một mình bà Tú gánh cả hai gánh nặng ấy trên vai, bà không nỡ để chồng đi làm thuê cho bè lũ tay sai, cho quân xâm lược mà ông vốn ghét cay ghét đắng, bà cũng chẳng yên tâm để ông bếp núc, con cái, thế là bà ôm tất. Ý thức được hoàn cảnh gia đình, Tú Xương lại càng thêm tự trách, càng thêm đau đớn và căm ghét cái xã hội đẩy đưa, đốn mạt lúc bấy giờ.

Nhưng phải chăng Tú Xương chỉ chửi đời, chửi mình? Tú Xương còn chửi cả những kẻ giống mình nữa, ông chửi những kẻ bạc bẽo, tinh ăn lười làm, thích hưởng thụ, coi vợ là người ăn kẻ ở, phải phục dịch cho những thói ăn chơi, hưởng thụ của mình. Chửi những ông chồng, những kẻ đốn mạt, nỡ vứt lên đôi vai người vợ kết tóc những gánh nặng chất chồng, nhưng lại chẳng có lấy một sự day dứt, thương cảm, không biết tôn trọng yêu quý vợ mình, để những người phụ nữ bất hạnh ấy phải chịu biết bao đắng cay, khổ cực của cuộc đời. Như vậy đúng với cái câu "Có chồng hờ hững cũng như không" thật, chẳng bằng họ không lấy chồng có khi cuộc đời lại đỡ vất vả.

Bài thơ Thương vợ đã thể hiện một cách sâu sắc và cảm động tình cảm chân thành của người chồng dành cho vợ mình, dẫu rằng ông không cho bà được một cuộc sống ấm no, êm đềm thế nhưng cách mà ông tôn trọng, yêu thương bà Tú khiến bà có một chỗ dựa tinh thần vững chắc, là động lực để bà Tú tiếp tục cố gắng vì gia đình, điều ấy khiến người ta thật ngưỡng mộ. Hai câu thơ cuối là những lời tâm huyết tận đáy lòng, cũng là tiếng phản kháng của Tú Xương trước cuộc đời đen bạc, là lời tự trách đầy chua xót, cay đắng của ông với chính bản thân, với cả những đức ông chồng tệ hại, vô dụng, để vợ phải vất vả cực nhọc cả cuộc đời.

http://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-hai-cau-tho-cuoi-bai-tho-thuong-vo-cua-tran-te-xuong-48186n.aspx

Tác giả: Trần Khởi My     (4.0★- 3 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Phân tích bài thơ Mồng hai Tết viếng cô Kí
Dàn ý phân tích bài thơ Thương Vợ
Phân tích khổ bốn trong bài Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)
Dàn ý phân tích những điểm tương đồng trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương
Phân tích tiếng cười châm biếm của tác giả qua bài thơ Năm mới chúc nhau
Từ khoá liên quan:

Phan tich hai cau tho cuoi bai tho Thuong vo cua Tran Te Xuong

, Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương,

SOFT LIÊN QUAN
  • Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

    Cảm nhận bài mùa xuân nho nhỏ Ngữ văn 9

    Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là tài liệu ôn tập môn Ngữ văn dành cho các em học sinh lớp 9. Để đọc hiểu và phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ chính xác, đầy đủ nhất, các em học sinh có thể lưu lại nội dung hướng dẫ ...

Tin Mới

  • Phân tích chất lãng mạn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Văn Thạch Lam vốn là thứ văn chương nhẹ nhàng, đậm chất trữ tình và ông luôn hướng ngòi bút tới những thứ thanh cao, tốt đẹp, bởi vậy thật dễ hiểu khi trong các tác phẩm của ông, ta bắt gặp những yếu tố lãng mạn, trữ tình, cùng Phân tích chất lãng mạn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để giúp người đọc dễ dàng hiểu hơn về điều đó.

  • Bình giảng bài thơ Nhớ đồng

    Với bài văn mẫu hướng dẫn bình giảng bài thơ Nhớ đồng dưới đây, các em chắc chắn sẽ dễ dàng hơn trong việc hoàn thành yêu cầu này. Em có thể tham khảo bài viết của chúng tôi để học hỏi thêm cách diễn đạt cũng như cách trình bày bài viết cho khoa học.

  • Bình giảng bài thơ Tương tư

    Dựa vào những kiến thức đã được trau dồi, các em hãy viết bài văn bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính nhằm giúp độc giả hiểu hơn về nội dung tư tưởng cũng như giá trị nhân văn đầy cao đẹp của tác giả gửi gắm qua bài thơ.

  • Tả hoa hồng

    Chắc hẳn khi nhắc đến loài hoa được mệnh danh là "nữ hoàng sắc đẹp", các em đã đoán ra đó là loài hoa hồng, không chỉ biểu trưng cho phái đẹp mà mỗi sắc màu của loài hoa này còn biểu tượng cho tình yêu, tình bạn, sự thuần khiết cao thượng, lời xin lỗi, sự biết ơn, tình yêu bất diệt,... và trong bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn các em viết bài văn tả hoa hồng. Các em có thể tham khảo bài viết ngắn gọn sau đây của chúng tôi để biết cách viết văn.


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá