Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Bước vào thế giới nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, chúng ta như lạc bước vào khung cảnh thôn Vĩ dân dã mà tươi sáng, trong trẻo trong nắng sớm. Khám phá bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ, hôm nay chúng tôi sẽ hướng dẫn các em phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong đó tập trung Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Hãy cùng tham khảo các em nhé.

Tổng đài hỗ trợ văn học: Gọi 1900.63.63.81 (văn ngắn, điểm cao)

Đề bài: Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Mục Lục bài viết:
1. Dàn ý chi tiết
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3

phan tich 2 kho tho dau trong bai tho day thon vi da

Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
 

Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

I. Dàn ý Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Chuẩn)

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

2. Thân bài:

* Khổ thơ đầu:
- Câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”:
+ Lời hờn dỗi, trách yêu đầy duyên dáng của một cô gái xứ Huế.
+ Lời mời mọc dễ thương của một người con xứ Huế, muốn người bạn phương xa có đôi lần ghé thăm quê.
+ Lời mà tác giả đang tự vấn lòng mình, nhắc nhở bản thân về một chuyến ghé thăm thôn Vĩ sau nhiều năm xa cách. 

- “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”:
+ Một buổi bình minh rực rỡ, ánh sáng tràn ngập khắp nơi nơi, lấp ló, xen kẽ qua từng tán cau xanh mướt.
+ Hình ảnh “nắng hàng cau” là hình ảnh mà Hàn Mặc Tử dành riêng cho Huế..(Còn tiếp)

>> Xem chi tiết Dàn ý Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ tại đây.
 

II. Bài văn mẫu Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ


1. Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, mẫu 1 (Chuẩn)

Khi nhận định về các nhà thơ nổi bật của phong trào thơ Mới nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy đã viết rằng “Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng… thì Hàn Mặc Tử là hài hòa của lãng mạn, tưởng tượng, thậm chí siêu thực nữa”. Thật vậy, cuộc đời Hàn Mặc Tử tuy ngắn ngủi và phải chịu nhiều đau thương, tuyệt vọng, thế nhưng khi nhìn vào thơ ông, người ta vẫn thấy trong đó chan chứa những xúc cảm về tình yêu và sự sống mãnh liệt, mãnh liệt đến độ quằn quại và đau đớn. Thêm vào đó cái khác biệt trong thơ Hàn Mặc Tử còn là vẻ lãng mạn pha lẫn lối thơ Đường luật cũ, cùng với nét phá cách đầy sáng tạo trong tuy duy nghệ thuật, mang đến cho độc giả những vần thơ độc đáo, ấn tượng. Đọc thơ Hàn Mặc Tử người ta thấy những vẻ đẹp thực lãng mạn, trong trẻo, tinh khiết đến vô ngần, nhưng cũng đồng thời là những hình ảnh kỳ dị, điên cuồng, siêu thực nhất khiến người đọc không khỏi trăn trở suy nghĩ về một hồn thơ lạ lùng nhất của nền thơ Mới. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong số những bài thơ xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử, là tác phẩm nổi bật hàng đầu của trong phong trào thơ Mới, thể hiện được gần như hết phong cách sáng tác của ông, trong đó ở hai khổ thơ đầu, người ta thấy một Hàn Mặc Tử với tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống sâu sắc thông qua bức tranh quê thanh khiết, đậm chất trữ tình.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Hàn Mặc Tử mở đầu tác phẩm bằng một lời hỏi ngỏ rất đỗi dịu dàng, rất đậm chất Huế, mang đến những xúc cảm êm đềm của bức tranh quê thanh bình đầy sức gợi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Chủ thể “anh” trong câu thơ khiến người đọc không khỏi quẩn quanh nhiều mối băn khoăn, liệu rằng câu hỏi ấy có phải là lời hờn dỗi, trách yêu đầy duyên dáng của một cô gái xứ Huế nào với một chàng trai cứ mãi rụt rè chẳng chịu bày tỏ lòng thương nhớ, để cô phải đợi chờ. Rồi đấy cũng có thể là lời mời mọc dễ thương của một người con xứ Huế, muốn người bạn phương xa có đôi lần ghé thăm quê hương xứ sở đầy thơ mộng này. Nhưng rồi nếu nhìn ở một khía cạnh khác có lẽ rằng câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, lại là lời mà tác giả đang tự vấn lòng mình, nhắc nhở bản thân về một chuyến ghé thăm thôn Vĩ sau nhiều năm xa cách. Hai từ “không về” gắn vào giai đoạn cuộc đời đầy đau thương của Hàn Mặc Tử, lại càng thêm xót xa, đó là ẩn ý về những dự cảm không lành của người thi sĩ khi bị căn bệnh phong hành hạ, đau đớn, tuyệt vọng vì không thể nào còn về lại được Huế. Người chỉ còn có thể nhớ về thôn Vĩ, nhớ về người anh yêu thương trong những hồi ức tốt đẹp nhất. 

Có thể nói rằng câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ, không chỉ là chiếc cầu dẫn gợi mở ra bức tranh xứ Huế mà còn bộc lộ một cách sâu kín những nỗi niềm trăn trở của tác giả về mảnh đất cố đô. Ở nơi ấy có tình yêu, có cuộc sống, có người con gái mà thi sĩ vẫn thường ao ước, chỉ tiếc rằng tất cả đều trở thành hư không trước trái ngang của bệnh tật. Trong niềm mong nhớ về Huế, Hàn Mặc Tử đã dùng những câu thơ thật tình, thật đẹp để gợi ra bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ thơ mộng, trong trẻo, tràn ngập sức sống. Bức tranh mở đầu bằng hình ảnh “nắng” lặp lại hai lần trong câu thơ:

 “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Đó là một buổi bình minh rực rỡ, ánh sáng tràn ngập khắp nơi nơi, lấp ló, xen kẽ qua từng tán cau xanh mướt. Hàn Mặc Tử đã vẽ lên từng nét thực mượt mà, đầy sức gợi trong bức tranh quê buổi sớm, trên nền nhàn nhạt ấm áp của nắng mới, hiện trên đó là hàng cau thẳng tắp, xanh tươi giản dị chân quê. Hình ảnh “nắng hàng cau” là hình ảnh mà Hàn Mặc Tử dành riêng cho Huế, bởi lẽ rằng cau là biểu tượng đặc trưng của mảnh đất cố đô, luôn vươn cao mạnh mẽ trên nền trời xanh thẳm, đón những tia nắng ấm áp đầu tiên trong ngày một cách thật trọn vẹn. Cảnh từng tán lá cau xanh mướt tắm nắng vàng lấp lánh những sương mai ẩn hiện, làm cho lòng người thêm khoan khoái, vui tươi, mở ra một bức tranh quê thực tinh khiết thơ mộng. “Nắng mới lên” là những từ ngữ giản dị mà Hàn Mặc Tử viết về cảnh bình minh, đó là cái nắng ban mai mới mẻ, êm dịu, không phải cái nắng nóng đổ lửa lúc ban trưa, mà đó là những tia nắng đầu tiên sau một đêm dài, trong trẻo, ấm áp tràn đầy sức sống, là biểu tượng của sự khởi đầu tươi mới. Nghĩ xa hơn hình ảnh “nắng mới lên” có lẽ chính là ẩn dụ cho tâm hồn người nghệ sĩ khi cầm trên tay tấm bưu thiếp của cố nhân, một xúc cảm dịu dàng, đầy hy vọng. 

Trong không gian tràn ngập nắng mới, là sự hiện diện của “vườn ai” một khu vườn mang dáng vẻ trù phú, non tươi, mỡ màng trong từng góc cạnh thông qua hai từ “mướt quá”, đầy gợi cảm. Bên cạnh đó liệu pháp so sánh “xanh như ngọc” cũng mang đến vẻ đẹp thực thơ mộng cho bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ, khiến người đọc dễ dàng tưởng tượng ra hình ảnh một khu vườn Huế xanh non, từng tán lá còn đọng hơi sương tắm dưới cái nắng ban mai dìu dịu, mang đến cảm giác thực trong trẻo, ngọc ngà, tươi mát làm sao. Đặc biệt với từ phiếm chỉ “ai” trong “vườn ai” đã gợi ra nhân vật trữ tình ẩn hiện, làm tăng thêm sức sống, sự hòa hợp của con người với thiên nhiên tươi đẹp. Đồng thời dẫn mở câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”, gợi ra vẻ đẹp con người xứ Huế chân thành, phúc hậu, ấm áp. Bút pháp “thi trung hữu họa”, lấy cái gầy guộc, giản đơn của lá trúc để làm đậm lên những nét đẹp duyên dáng, hiền từ của khuôn mặt người. Hàn Mặc Tử nhớ người Huế bằng những vẻ đẹp hiền hòa, đan xen trong đó là những nỗi nhớ xa xôi về một người con gái Huế mang trong mình những phẩm chất nổi bật, thủy chung, dịu dàng, khuôn mặt xinh xắn phúc hậu.

Sau những niềm rung cảm, lạc quan yêu đời từ bức tranh thiên nhiên rực rỡ, nhiều sức sống, Hàn Mặc Tử tiếp tục đưa độc giả về đến với bức tranh thiên nhiên buổi tối muộn, với những cảnh thuyền, cảnh trăng, và dòng sông Hương êm đềm, lặng lẽ. Từ thực cảnh tràn ngập ánh sáng của buổi bình minh, đến cảnh đêm đen người ta đã tinh tế nhận ra được sự chuyển đổi cảm xúc của tác giả từ những niềm vui ngập tràn trong thân thể, đến nỗi băn khoăn, bất định, nhiều lo lắng, hoang mang trong cảnh thiên nhiên lạnh lẽo, vắng vẻ.

 “Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Hàn Mặc Tử viết về cảnh mây, cảnh gió, vốn là những thứ luôn song hành với nhau, mây có dịch chuyển là bởi vì có gió đưa, dường như chúng luôn có một mối liên hệ gắn bó thực chặt chẽ. Nhưng khi đọc câu thơ “Gió đi lối gió, mây đường mây” cũng là cảnh gió, mây ấy thế nhưng chúng lại dường như tách biệt, ngược hướng, gợi ra sự chia ly, tan vỡ, mà đối với Hàn Mặc Tử ấy là sự chia cắt của tác giả với nhân thế, là những dự cảm đầy đau thương trước căn bệnh hiểm ác. Đặc biệt lối thơ tả cảnh đóng khung khi tác giả lặp lại điệp từ “mây”, “gió” hai lần, cùng lối ngắt nhịp 4/3 làm gãy đôi câu thơ, mang đến sự hụt hẫng, cô liêu khó tả. Con sông Hương vốn đã yên bình lặng lẽ suốt mấy ngàn năm lịch sử, chứng kiến nhiều những biến cố đau thương của dân tộc, đã không còn hay bất ngờ trước thế sự đổi thay, nhưng khi bước vào thơ của Hàn Mặc Tử dòng sông lại dường như mang những xúc cảm bâng khuâng của thi nhân qua mấy chữ “dòng nước buồn thiu”. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta tưởng chừng như tác giả đang đứng trước bờ sông Hương, ánh mắt dõi trông xa xa, lòng buồn man mác một nỗi buồn vô tận đang lan tràn khắp không gian, thực đúng với mấy câu “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du. Bên cạnh đó hình ảnh “hoa bắp lay” lại càng khiến người đọc thấm thía những nỗi lòng của thi nhân, hoa bắp vốn vô sắc, vô hương, nhạt nhòa trong trời đất, là ẩn dụ sâu sắc cho cuộc đời cho số phận buồn tẻ, lặng lẽ đang tồn tại như một cái bóng cô liêu, đơn độc giữa cuộc đời, chỉ có thể mặc cho dòng đời đẩy đưa, nghĩ mà thật xót xa cho cuộc đời “hoa bắp”. Thêm vào đó cả câu thơ “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” đã mở ra một không gian rộng lớn vô tận, nhưng thiếu đi cái ấm áp, chỉ có sự lạnh lẽo, đìu hiu bao trùm, xóa tan hết cái vẻ đẹp rực rỡ nhiều mộng tưởng mà tác giả gợi nhắc trong khổ thơ đầu. 

Nhấn mạnh sự chuyển đổi cảm xúc của tác giả giữa hai khổ thơ từ vui tươi, yêu đời sang buồn thương, tuyệt vọng. Vì quá đau đớn, xót xa cho cuộc đời nhiều bất hạnh của mình, Hàn Mặc Tử lại tìm về với trăng, người bạn tri kỷ tâm giao của thi sĩ, vẫn luôn gắn bó với người trong nhiều vần thơ vừa trong trẻo vừa kỳ dị, liêu trai khó tả. Hình ảnh trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ xuất hiện thực đẹp và hiền hòa ở câu “Thuyền ai chở bến sông trăng đó”, ánh trăng vàng nhàn nhạt phủ lên con thuyền nan đang xuôi theo dòng nước, và mặt sông dập dềnh lấp lánh những ánh trăng rực rỡ. Một khung cảnh thực nhiều mộng ảo và tình tứ biết bao dường như đã phần nào xua đi được những nỗi buồn thương trong tâm hồn tác giả. Thế nhưng Hàn Mặc Tử vẫn chẳng thể quên đi hết những nỗi hoang mang, lo lắng cho cuộc đời mình trong câu thơ “Có chở trăng về kịp tối nay?”, ấy là cảm xúc lo lắng không yên, dự cảm chẳng lành trước cuộc đời ngắn ngủi sắp hết của mình. Ông sợ rằng bản thân không còn kịp được nhìn thấy ánh trăng đẹp đẽ, không còn thấy được “bạch nguyệt quang” của cuộc đời – người con gái xứ Huế, người mang lại cho ông những niềm vui sống, hy vọng về một tình yêu đẹp giữa lúc sóng gió cuộc đời đang bủa vây thân xác héo gầy, dù rằng đó chỉ là một tấm bưu thiếp mà nàng gửi đi.

Cuộc đời Hàn Mặc Tử ngắn ngủi và đau thương, hồn thơ ông chất chứa nhiều nỗi khát vọng về tình yêu, về cuộc sống, nhưng ẩn chứa sau đó là những nỗi xót xa, đau đớn đến cùng cực. Chính điều đó đã làm nên một chất thơ vừa thơ mộng, trong trẻo đến vô ngần, lại cũng cực kỳ phức tạp khi thường xuyên thấy sự xuất hiện của những yếu tố kỳ dị, liêu trai, điên cuồng mà nói như Hoài Thanh, có sự đó cũng bởi hồn thơ của Hàn Mặc Tử vốn là “Một nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ não. Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu... Chỉ trong thơ Hàn Mặc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế. Lời thơ như dính máu”. Đây thôn Vĩ Dạ chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử vừa đẹp vừa ẩn chứa những nỗi lòng đau thương tuyệt vọng, hồn thơ từ ấm chuyển sang lạnh lẽo, cô đơn chỉ trong vài dòng thơ ngắn ngủi, khiến người đời không khỏi băn khoăn, thấm thía xót thương cho một đời nghệ sĩ ngắn ngủi, nhiều bất hạnh.
 

2. Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, mẫu 2 (Chuẩn)

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ Mới ở Việt Nam. Thơ Hàn Mặc tử mang một “diện mạo” độc đáo, cá tính và cũng đầy bí ẩn. Bên cạnh những vần thơ chất chứa nhiều tâm sự cùng hình tượng máu- trăng ám ảnh, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong rất ít bài thơ có hình ảnh, cảm xúc tươi sáng, trong trẻo với tình yêu của người thi sĩ dành cho thôn Vĩ và người con gái xứ Huế. Trong hai khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tái hiện sống động bức tranh thiên nhiên xứ Huế và những cảm xúc, tình cảm chân thành nhất của bản thân.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”

Câu thơ mở đầu tựa một câu hỏi nhưng ẩn chứa trong đó lại là lời trách móc rất nhẹ nhàng, tình cảm. Trong câu hỏi ấy còn có sự mời gọi đầy tha thiết của cô gái thôn Vĩ dành cho tác giả. Đó cũng có thể là lởi tác giả đang tự trách mình, là khao khát thầm kín của nhà thơ: Trở về thăm lại làng quê và con người thôn Vĩ. Câu thơ không dùng từ “về thăm” mà lại là “về chơi” mang ý nghĩa sắc thái gần gũi, tự nhiên và thân mật. Hai câu thơ tiếp theo chính là bức tranh về thiên nhiên trên những mảnh vườn nhỏ nơi thôn Vĩ trong hồi tưởng của nhà thơ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Có thể thấy, nhà thơ không tả cảnh mà chỉ gợi cảnh, gợi lên những hình ảnh ấn tượng và đẹp đẽ nhất. Những hàng cau thẳng tắp, cao vút dưới ánh nắng bình minh như mở ra khung cảnh khoáng đạt, bình yên của thôn Vĩ. Những ánh nắng mới lên đã tô đẹp cho hàng cau, ánh nắng sớm trải đều trên hàng cau tạo nên vẻ đẹp hài hòa, thống nhất, đó là sự hài hoà giữa thiên nhiên và cảnh vật.

Câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” khiến người đọc cảm giác như nhà thơ đang đi giữa khu vườn ở thôn Vĩ. Tính từ “mướt”, “xanh” cùng cách so sánh độc đáo “ mướt như ngọc” đã gợi ấn tượng về một khu vườn xanh mướt, sạch sẽ, láng bóng như màu xanh của ngọc. Đó là khu vườn thôn quê dân dã đẹp đẽ dưới cái nắng ban mai. 

Sự xuất hiện bất ngờ của con người trong câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” đã làm cho bức tranh cảnh vật thêm sinh động, có lẽ đây chính là chủ của khu vườn. Sự xuất hiện có phần kín đáo, e thẹn đậm chất con người Huế, khuôn mặt chữ điền phúc hậu thấp thoáng sau lá trúc che ngang. Có thể nói chỉ với bốn câu thơ trong khổ thơ đầu Hàn Mặc Tử đã phác hoạ rõ nét về thiên nhiên cũng như con người thôn Vĩ: cảnh vườn tươi đẹp, con người ngay thẳng, phúc hậu.

Bước ra khỏi khu vườn nhỏ ở thôn Vĩ, tác giả đưa người đọc đến với thế giới tình cảm mềm mại, thiết tha nhưng cũng đầy những trăn trở, âu lo của nhà thơ. Nỗi buồn xa cách, mặc cảm chia li thể hiện rõ nét qua cây thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” . Câu thơ gợi ra nhịp điệu khoan thai, nhẹ nhàng của dòng sông và trạng thái khác đường lạc lối của mây và gió. Mây và gió vốn là cặp hình tượng chỉ sự gắn bó, quan hệ mật thiết không thể tách rời, tuy nhiên trong câu thơ của Hàn Mặc Tử ta có thể thấy gió với mây lại không đi nhau mà lại khác đường ngược lối, nghe có vẻ chẳng liên quan gì đến nhau. Trên thực tế, phải có gió thổi mây mới bay và phải có gió sông mới có sóng, thế nhưng ở đây mây gió lại tách ra khỏi nhau đại diện cho sự ngược lối trong tình cảm của nhà thơ. Gió mây không hoà hợp nên dòng nước chẳng gợn sóng, chỉ đành buồn thiu nhìn hoa bắp khẽ lay. Bức tranh về dòng sông tuy đẹp nhưng lại ảm đạm, lạnh lẽo, trống vắng, chất chứa nỗi buồn, sự cô đơn, lạc lõng của nhà thơ trước cuộc đời và sự sống. 

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Tuy nhà thơ mang tâm trạng buồn và cô đơn nhưng vẫn không mất đi niềm hy vọng vào tình yêu và sự đáp lại. Tình yêu của tác giả không chỉ dành riêng cho cô gái thôn Vĩ mà là cả thiên nhiên, con người nơi đây. Cảnh sông nước trở nên huyền ảo, thơ mộng lấp lánh, sông không còn là sông nước mà là sông trăng nơi ngập tràn ánh trăng sáng. Con thuyền không chỉ chở ánh trăng mà còn mang theo hi vọng dù nhỏ nhoi của người thi sĩ. “Có chở trăng về kịp tối nay?” câu hỏi thể hiện sự trăn trở, lo âu, giữa màn sương dày đặc của nỗi tuyệt vọng, xót xa, trong tâm hồn nhà thơ vẫn nhen nhóm niềm hi vọng dẫu nhỏ nhoi. Nhất định phải chở về “kịp tối nay” chứ không phải tối nào khác có lẽ bởi vì nhà thơ đã quá cô đơn, trống vắng hoặc là đã chờ đợi quá lâu rồi, chỉ có trăng mới hiểu được những nỗi lòng thầm kín của nhà thơ. Với nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ và dùng từ ngữ đầy gợi tả, nhà thơ đã mang đến một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng đầy tâm trạng. Nhịp thơ cũng như các điệp từ được sử dụng tạo nên những thái cực đối lập trong từng câu thơ, hình ảnh trong thơ được nhân hoá độc đáo tạo nên một bài thơ trữ tình độc đáo mà sâu lắng.

Qua hai khổ thơ đầu của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, nhà thơ Hàn Mặc Tử đã mang đến cho người đọc được mở mang tầm mắt và hiểu biết về thiên nhiên, con người xứ Huế thơ mộng. Bên cạnh đó chúng ta cũng phần nào hiểu được những tâm tư, nỗi buồn sâu lắng trong lòng tác giả. Một thôn nhỏ ven dòng sông Hương nhờ có Hàn Mặc Tử mà đã trở thành hình ảnh đẹp đẽ, trong trẻo và đậm chất Huế.

 

3. Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, mẫu 3 (Chuẩn)

Nhắc đến phong trào thơ Mới không thể không nhắc tới Hàn Mặc Tử- nhà thơ Điên của nền văn học Việt. Bài thơ "Đây thôn Vĩ dạ" là một tuyệt phẩm tiêu biểu của ông. Hai khổ thơ đầu bài thơ như một khúc ngân trữ tình đẹp đẽ và giàu sức gợi:

" Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"

Vĩ Dạ- chốn thiên đường nơi trần gian của Huế mộng mơ. Câu hỏi tu từ thiết tha, vừa như lời trách móc lại vừa như lời mời gọi:"Sao anh không về chơi thôn Vĩ" nghe sao mà chân thành và dịu dàng đến thế. Giọng thơ trầm lắng nhẹ nhàng khôn tả qua việc gieo kết hợp các vần bằng trong câu đầy tinh tế. Câu thơ như một lời đề gợi mở ra những vẻ đẹp về thiên nhiên và con người nơi đây:

" Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền"

Hàng cau thẳng tắp vươn mình đón nắng, gió thoảng thoảng hơi mây, " nắng mới lên" mang nét gì đó tinh khôi, trong sáng, kiều diễm. Vẻ đẹp của ánh nắng vàng tươi mới, không gây gắt như trưa hè, không đượm buồn như chiều hoàng hôn mà đó là ánh nắng trong veo vô ngần của buổi sớm mai. Hàng cau xanh trong nắng vàng nhè nhẹ hiện lên đẹp đẽ biết bao. Trong bầu không gian ấy còn có vườn " mướt quá, xanh như ngọc". Bằng những tính từ gợi cảm, chỉ màu sắc độc đáo tác giả đã tái hiện khung cảnh vườn đầy non tơ, mang sức sống mới , tươi tốt và đầy hy vọng. Một vài giọt sương đọng trên lá trở nên lung linh hơn, cành non mơn mởn trong sắc xanh của lá cành tràn nhựa sống, ngời sáng, trong ngần. " Lá trúc che ngang mặt chữ điền" - Gương mặt người thiếu nữ thoáng ẩn hiện trong bầu không gian tuyệt diệu. Gương mặt chữ điền ấy thật thành tú sau lá trúc xanh mềm mại. Tất cả tạo nên vẻ đẹp ấn tượng, độc đáo, vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, thanh tao, nhã nhặn của người con gái xứ Huế hiện lên thật duyên dáng,ý nhị. Cảnh và người như hòa chung, mang nét hồn của một thì nhân đang bâng khuâng, rạo rực trước vẻ đẹp của thiên nhiên

Nếu trong khổ đầu là cảnh lúc bình minh thì sáng khổ hai đó là bức tranh thôn Vĩ trong cảnh chiều về, đêm xuống.

" Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước luồn quanh hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay"

Dường như thiên nhiên đang nhuốm màu buồn của sự chia ly, mây và gió thường song hành với nhau nay lại về đôi ngả" gió theo lối gió, mây đường mây", mây gió lang thang vô định giữa bầu trời kia cảm giác sao cô đơn và buồn đến vậy. Dòng nước cũng được nhân hoá mang bầu tâm sự " buồn thiu" lững lờ trôi , hoa bắp nhẹ " lay" trong gió cũng có gì đó yếu ớt, phảng phất nét buồn hoài niệm. Cảnh mang nỗi lòng của hồn người, dường như đâu đây ta nghe được tiếng lòng của người thi sĩ đang đơn côi trước nỗi nhớ mong, buồn đau trước cảnh chia xa ngậm ngùi. Để vơi đi nỗi lòng, người thi sĩ ngắm nhìn dòng sông Hương huyền diệu, sông nước soi ánh trăng mờ, chiếc thuyền thong thả nằm im bên bến sông thương. Bến trăng, sông trăng, thuyền trăng, non nước mây trời đang tràn ngập ánh trăng chứa đựng nỗi niềm gì khôn thấu. Trăng có đẹp đấy thôi nhưng trăng cũng đượm buồn, bóng tối tĩnh mịch, yên ả giữa trời đêm. " Có chở trăng về kịp tối nay" -câu thơ như một lời tâm sự, một câu hỏi mà cũng là nỗi mong chờ, hy vọng chở ánh trăng về kịp như người thi sĩ đang mong ngóng người thương tới cho vơi bớt nỗi sầu cô đơn vậy, bởi trăng vốn như người bạn tâm tình tri kỉ của thi nhân.

Bằng những hình ảnh thơ độc đáo, tuy quen thuộc, bình dị nhưng qua tài năng trong ngòi bút của mình , Hàn Mặc Tử đã biến cái quen thành những nét mới lạ mà hấp dẫn. Cảnh mang tâm tình ,dư vị hoài niệm của thi nhân bằng cái nhìn đầy tinh tế và sâu sắc, chỉ qua hai khổ thơ thôi mà ta thấy được một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ.

---------------HẾT--------------

Đây thôn Vĩ Dạ là tác phẩm thơ đặc sắc trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tìm hiểu chi tiết về đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ, bên cạnh bài văn mẫu Phân tích 2 khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trên đây, các em có thể tìm đọc thêm: Phân tích khổ 3 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Chứng minh thiên nhiên đẹp và gợi cảm qua những bài thơ Tràng giang, Đây mùa thu tới, Đây thôn Vĩ Dạ, Hình ảnh thiên nhiên và con người xứ Huế qua bài Đây thôn Vĩ Dạ, Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mạc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ.

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-2-kho-tho-dau-trong-bai-tho-day-thon-vi-da-47531n.aspx
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ cũng là đề bài mà các em học sinh dễ gặp phải khi đi thi, làm bài kiểm tra. Các em có thể cùng tham khảo bài văn mẫu phân tích Đây thôn Vĩ Dạ để biết cách triển khai ý, viết bài linh hoạt, từ đó giúp bài văn đạt được điểm cao. 

Tác giả: Nguyễn Hải Sơn     (4.0★- 3 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Mở bài Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử
Cảm nhận về khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Cảm nhận khổ thơ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Từ khoá liên quan:

Phan tich 2 kho tho dau trong bai tho Day thon Vi Da

, phan tich hai kho tho dau bai day thon vi da hay nhat, cam nhan 2 kho dau cua bai day thon vi,

SOFT LIÊN QUAN
  • Cảm nhận khổ thơ cuối bài sang thu

    Văn mẫu hướng dẫn phân tích bài Sang Thu

    Khổ cuối bài thơ Sang thu được coi là kết tinh của những chiêm nghiệm, triết lí cuộc sống vô cùng sâu sắc của nhà thơ Hữu Thỉnh, vậy em có Cảm nhận khổ thơ cuối bài sang thu như thế nào, cùng viết bài văn ngắn để chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về đặc sắc nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ đó nhé.

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá