Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Các em học sinh cùng phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ để hiểu hơn về tâm trạng, nỗi lòng và tâm sự thầm kín của người chinh phụ khi có chồng ra trận và thấy được nỗi bất hạnh, khổ đau của những người phụ nữ trong bối cảnh xã hội đầy rối ren, li loạn lúc bấy giờ.

Đề bài: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Mục Lục bài viết:
1. Bài mẫu số 1
2. Bài mẫu số 2
3. Bài mẫu số 3

phan tich tinh canh le loi cua nguoi chinh phu

Bài văn mẫu Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

 

Phần 1: Dàn ý phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Xem chi tiết Dàn ý chi tiết tại đây:
 
 

Phần 2: Bài văn mẫu Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Bài mẫu số 1: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 

Phải chăng trong bất cứ cuộc chia li nào thì người ở lại cũng là người đau khổ nhất. Nền văn học Việt Nam đã chứng kiến biết bao cuộc chia li trong lịch sử, đặc biệt ở thế kỉ XVIII, Đặng Trần Côn đã lấy bối cảnh cuộc chia li đầy lưu luyến, bi thương của người phụ nữ phải xa chồng trong thời gian dài, chờ tin chồng ra trận trở về với khao khát hạnh phúc lứa đôi qua khúc ngâm "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ".

Hiện thực chiến tranh tàn khốc, Đặng Trần Côn đã hướng ngòi bút nhân đạo của mình đến nỗi đau của người phụ nữ để cất lên tiếng nói của cả thời đại. Tác giả lên án chiến tranh phi nghĩa, cướp đi cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người. Có lẽở nơi chiến trường kia, chinh phu đang phải đối diện cận kề với cái chết thì ở nơi quê nhà chinh phụ cũng đang mong mỏi chờ đợi tin tức của chồng trong vô vọng, buồn tủi. Với thể thơ song thất lục bát, đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" đã miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn ở người chinh phụ với khao khát được sống trong tình yêu, trong hôn nhân hạnh phúc gia đình.

Ở tám câu thơ đầu, nhà thơ đã miêu tả nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ khi chờ tin chồng ở nơi chiến trận:

"Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương."

Giữa không gian tĩnh mịch và vắng vẻ, người phụ nữ bồn chồn, thấp thỏm chờ tin chồng chính là hiện thân của nỗi cô đơn. Nếu tiếng yêu thúc giục nàng Kiều "Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" thì ở đây, trước hiên vắng người phụ nữ lại "thầm gieo từng bước". Không gian mà thi sĩ gợi ra ở đây chính là "hiên vắng" nhỏ hẹp trước nhà.Nàng lo lắng, đi đi lại lại như muốn gieo rắc vào lòng người đọc những thanh âm của sự cô đơn, lẻ bóng. Mặc dù xuất hiện với hành động "dạo" thế nhưng những bước chân ấy có chút gì đó nặng nề để "thầm gieo từng bước". Có lẽ, thẳm sâu trong tâm hồn người phụ nữ đó đang chất chứa những nỗi niềm, tâm sự được bộc lộ thành những hành động dường như vô thức, nàng buông rèm rồi lại kéo rèm: "Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen." Hành động đó cho thấy người chinh phụ như đang trông ngóng tin tức của chồng ở nơi biên ải xa xôi nhưng nàng đều nhận lại được sự im lặng đến đáng sợ.Dù trong bất cứ tư thế nào thì những tình cảm thương nhớ ấy cũng không khỏi khắc khoải, thường trực trong tâm hồn người chinh phụ.

Hành động "rủ", "thác" ấy lại gợi nhắc đến sự nhớ mong trong vô hạn.Nàng cuốn rèm với sự chờ đợi, mong ngóng con "chim thước" ở "ngoài rèm" sẽ đem đến tin vui cho nàng về người chồng đang chinh chiến nơi chiến trường.Nỗi nhớ của người chinh phụ được bộc lộ qua nhiều chiều không gian khác nhau, không chỉ ở "ngoài rèm" mà cả ở "trong rèm".Thế giới nội tâm của nàng nhuốm màu sắc tâm trạng. Người chinh phụ đã tự vấn mình rằng "Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?". Trong nỗi bồn chồn khắc khoải ấy, người phụ nữ không biết chia sẻ cùng ai, đành bộc lộ những tâm tư tình cảm đó với một ngọn đèn leo lét "Đèn có biết dường bằng chẳng biết". Nhà thơ đã sử dụng điệp ngữ bắc cầu "đèn biết chăng- đèn có biết" đã diễn tả tâm trạng buồn lê thê trong thời gian vô tận và không gian tĩnh mịch, cô đơn dường như không bao giờ kết thúc. Đó là câu hỏi tu từ nhưng cũng là lời than thở, tự dằn vặt mình.Ngọn đèn đã chứng kiến và soi tỏ nỗi lòng của người chinh phụ, bởi "đèn" chính là người thức cùng, cùng người chinh phụ giãi bày tâm sự, nhớ mong. Nỗi buồn ấy không thể bộc lộ mà người phụ nữ chỉ muốn giữ riêng cho mình: "Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi". Người phụ nữ cảm thấy cô đơn, trống trải trong chính căn phòng của mình bởi chính không gian chật hẹp, vắng vẻ nơi đây đã làm nàng gợi nhớ đến biết bao kỉ niệm quen thuộc. Thế nhưng để tìm được một người để có thể giúp nàng giãi bày tâm sự, lắng nghe nàng nói quả là một điều không phải dễ dàng.Nàng giữ riêng mình nàng biết, bởi có nói ra cũng đâu có ai hiểu được, đâu có ai đồng cảm với nàng.

Chủ thể của nỗi nhớ được hiện ra ngày càng rõ nét hơn với hình ảnh "Hoa đèn kia với bóng người khá thương". Hình ảnh "hoa đèn" gợi nhắc đến bóng người thương đó chính là chồng nàng, người cùng nàng gắn bó cả cuộc đời thế nhưng nay nàng chẳng có một chút tin tức gì về người chồng đang tham gia chinh chiến nơi chiến trường để bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, bảo vệ no ấm cho dân lành. Nàng thấy số phận mình chỉ như kiếp "hoa đèn" mong manh trước gió và có thể dập tắt bất cứ lúc nào. Hình ảnh "ngọn đèn", "hoa đèn" cùng với hình ảnh cái bóng trên tường của nàng gợi nhắc cho ta nhớ đến hình ảnh ngọn đèn không tắt trong bài ca dao quen thuộc: "Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?".Phải chăng ngọn đèn của tình yêu ấy vẫn luôn cháy rực trong bóng đêm yên lặng vì đang nhung nhớ một "bóng người khá thương" chăng?Nỗi buồn của người chinh phụ đã bao trùm lên cả không gian và thời gian, tác giả đã đi đến tận cùng của nỗi nhớ trong lòng người chinh phụ.

Nỗi nhớ chồng của người chinh phụ không chỉ được bao bọc trong không gian chật hẹp là căn buồng vắng, mà nỗi nhớ ấy còn được thường nhắc qua thiên nhiên, qua cảnh vật để nói lên tâm trạng của nhân vật trữ tình:

"Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng."

Có lẽ, chính sự tương tư mong nhớ chồng cả ngày lẫn đêm đã làm cho người chinh phụ phải trằn trọc suốt cả đêm dài. Nàng cảm nhận được từng khoảnh khắc trôi qua, từng cảnh vật trong đêm khuya tĩnh lặng đó là tiếng gà gáy "sương năm trống",là những cành "hòe phất phơ rủ bóng bốn bên". Thế nhưng tiếng gà ấy lại "eo óc" gợi cho ta thấy trong một không gian tĩnh lặng, tiếng gà vang lên tang tóc, tang thương đến chán chường. Từ láy "phất phơ" có tính gợi hình cao cho thấy tâm trạng trông mong, ngóng chờ một chút tin tức về chồng của người chinh phụ. Nàng đã thức trọn cả năm canh, chính nỗi nhớ đã khiến cho nàng cảm thấy mỗi giờ trôi qua đều dài "đằng đẵng" như một năm trôi qua vậy.Thời gian không còn tuần tự như nhịp sinh học bình thường của nó nữa mà đã được tác giả so sánh với "mối sầu dằng dặc tựa miền biền xa".Đó chính là nỗi buồn mênh mang, vô tận, rộng lớn như biểnvà nó luôn chảy trôi mãi mãi. Hai từ láy "dằng dặc" và "đằng đẵng" đã cụ thể hóa nỗi nhớ của người chinh phụ, cho thấy tâm trạng buồn triền miên, kéo dài vô vọng của nàng.

Người phụ nữ ấy vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn trong chính tâm hồn mình, để những hành động của nàng giờ đây chỉ là "gượng". Điệp từ "gượng" được lặp đi lặp lại ba lần, nàng "gượng" đốt hương, "gượng" soi gương, "gượng" gẩy những phím đàn nhưng nàng nhận ra rằng, dù mình có cố gắng làm gì đi chăng nữa thì cũng chẳng còn ai ở cạnh để thưởng thức những âm vang đó. Nàng "gượng" đốt hương để cho căn phòng chìm ngập trong hương thơm thoang thoảng nhưng nàng lại chìm vào cơn mê man khi "hồn đà mê mải". Có lẽ, tâm trí nàng giờ đây chỉ có hình ảnh của người chồng mà thôi.Nàng "gượng" soi gương để chỉnh trang lại nhan sắc của mình, thế nhưng chẳng biết từ đâu mà "lệ lại châu chan".Nàng nhìn thấu nỗi đau của mình trong gương ấy và rồi không kìm được những giọt lệ chỉ chực tuôn trào. Nàng muốn thay đổi không khí yên tĩnh, u buồn, nàng gượng gảy những phím đàn để xua tan không khí yên lặng ấy. Thế nhưng, dây "uyên kinh đứt" phải chăng là dự cảm không lành về hạnh phúc mong manh chỉ như sợi tơ hồng của nàng để giờ đây chỉ còn lại những "phím loan ngại chùng".Nàng vốn mang trong mình nhiều nỗi lo nên khi dây "uyên kinh đứt" nàng lại còn lo lắng hơn.Người phụ nữ dường như đã đã chìm hoàn toàn vào tuyệt vọng, bút pháp tả cảnh ngụ tình của nhà thơ đã cho thấy sự héo úa cả về tâm tư và dáng hình người phụ nữ.

Nếu ở khổ thơ trên là nỗi buồn, nỗi cô đơn triền miên của người chinh phụ thì ở khổ thơ này chính là nỗi nhớ thương chồng đau đáu, khôn nguôi:

"Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đụng tiếng trùng mưa phun".

Phải chăng, người phụ nữ đã gom hết những yêu thương trong lòng để nhờ cơn gió đông kia gửi đến chồng ở nơi "Non Yên". "Gió đông" chính là gió xuân tươi mát làm dịu đi nỗi buồn trong cảnh vật và lòng người nhưng nỗi nhớ chồng của người chinh phụ vẫn luôn thường trực trong lòng. Không gian xa xôi cách trở nên người chinh phụ bèn nhờ cơn gió đông gửi đến chồng những lời yêu thương nhất. Tâm trạng của người phụ nữ được miêu tả trực tiếp qua nỗi nhớ dài đằng đẵng được so sánh bằng đường lên tận trời.Đất trời bao la liệu có thấu cho nỗi chia li đau đớn của nàng không?Nỗi nhớ thương ấy còn có cả dư vị của sự ngậm ngùi, xót xa "Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong".Đường lên trời mù mịt, xa xôi cách trở cũng giống như nỗi nhớ mong của nàng rộng lớn như bể, chẳng biết đâu là bến bờ, cũng chẳng biết khi nào người chồng mới trở về bên nàng.

Cảnh vật xung quanh được nhìn dưới đôi mắt buồn của người chinh phụ càng trở nên sầu muộn hơn: "Cảnh buồn người thiết tha lòng/ Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun". Người phụ nữ ấy đã nhìn cảnh vật xung quanh với đôi mắt buồn làm cho khung cảnh càng thêm hoang vắng, quạnh hiu.Người phụ nữ ấy sống trong sự dày vò của cô đơn, trong nhớ nhung, lo lắng day dứt suốt ngày dài triền miên nhưng ta cũng thấy được niềm khao khát được hưởng hạnh phúc đến mãnh liệt của nàng.

Đoạn trích trên đã miêu tả thành công "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" bằng tấm lòng nhân đạo của tác giả. Nhà thơ đã khắc họa thành công hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tiêu biểu cho bi kịch về hạnh phúc lứa đôi, là hiện thân của cái đẹp với một tấm lòng chung thủy sắt son với chồng. Nhà thơ đã lên án chiến tranh phi nghĩa cướp đi hạnh phúc của con người, chính vì mà thế đoạn trích trên đã được rất nhiều độc giả của mọi thời đạitìm đọc và yêu thích.

 

Bài mẫu số 2: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Chuẩn)

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được trích trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Với thể loại ngâm khúc, bài thơ đã thể hiện một cách sâu sắc và thấm thía nỗi khổ đau, tình cảnh cô đơn lẻ loi của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích còn mang ý nghĩa lên án chiến tranh phi nghĩa của chế độ phong kiến đương thời, bộc lộ sự cảm thông của nhà thơ với hoàn cảnh và khát khao của người chinh phụ. 
 
Chồng phải chinh chiến nơi biên ải xa xôi, sau khi tiễn chồng đi, người chinh phụ trở về bắt đầu cuộc sống với những nỗi cô đơn, lẻ bóng. Tám câu thơ đầu đã khắc họa rất rõ tình cảnh đơn côi của người phụ nữ thông qua những cử chỉ, hành động:
 
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
 
Đi dạo trên hiên vắng nhưng thực chất chỉ là đi đi lại lại bởi tâm thế bây giờ không phải đi dạo để thưởng hoa vọng nguyệt, tiếp đến là hành động cuốn rèm, cứ buông rèm rồi lại cuốn rèm làm đi làm lại nhiều lần cũng không để tâm tới. Những hành động lặp đi lặp lại vô nghĩa cho thấy sự thẫn thờ, ngẩn ngơ và chất chứa đầy nỗi ưu tư của người chinh phụ. Chồng đã ra trận, chỉ còn lại một mình nàng, nàng đang phải gồng mình chống chọi với nỗi cô đơn trong âm thầm, không thể tâm sự hay san sẻ cùng với bất kỳ ai. Câu hỏi tu từ “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?” càng tô đậm thêm nỗi day dứt và khắc khoải trong lòng người chinh phụ, hình ảnh “hoa đèn” và “bóng người” là sự so sánh sức sống của người phụ nữ đã lụi tàn, số phận như tàn đèn.
 
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
 
Đây thực chất là câu thơ tả cảnh ngụ tình, tiếng gà eo óc, bóng cây hòe rủ phất phơ trong đêm, dường như cảnh vật và sự sống nhìn qua con mắt của người chinh phụ giờ đây đều nhuốm màu buồn, gợi nên cảm giác trống trải, hoang vắng tột cùng. Thời gian theo cảm nhận cũng đầy ắp nỗi niềm tâm trạng, “đằng đẵng”, “dằng dặc”, đó là biểu tượng cho những nỗi buồn, nỗi đau khổ đang kéo dài vô tận không biết điểm dừng. Nỗi buồn của người phòng khuê làm cách biệt không gian và thời gian, một giờ bằng cả một năm, mối sầu như biển cả mênh mông. Nỗi buồn khổ ấy đã đẩy lên đỉnh điểm, khiến cho mọi hành động của người chinh phụ chỉ là gượng gạo, miễn cưỡng:
 
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
 
Sự rối bời đến đây đã bộc lộ rõ ràng, đốt hương mà hồn lại mê man, soi gương mà nước mắt chứa chan, gảy đàn mà lại thấy điềm báo gở chẳng lành, tất cả đang dồn ép vào nỗi lòng người chinh phụ khiến nàng không thể giải tỏa, càng cố gượng gạo thì nỗi buồn sầu càng thêm chất chứa. Bỏ qua nỗi buồn của mình, người chinh phụ nhớ đến chồng đang biên ải xa xôi, hướng nỗi niềm nhớ mong tới miền biên ải.
 
“Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”
 
Nỗi nhớ chồng của người chinh phụ đã hòa tan vào không gian rộng lớn, không gian ấy gợi sự xa xôi, cách biệt nghìn trùng không thể đi tới được, “trời thăm thẳm” không đáy như chính sự nhớ mong triền miên không dứt, nỗi nhớ “đau đáu” ẩn chứa cả sự vô vọng, ngóng trông chờ đợi trong mỏi mòn. Thực sự nhà thơ đã đem nỗi lòng người chinh phụ phơi bày ra, bởi chính nỗi nhớ thương ấy cũng không thể bao bọc được nữa.
 
“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
 
Người chinh phụ khao khát được sẻ chia nỗi lòng với cảnh vật, tìm sự đồng cảm nhưng lại trở về với vô vọng, “sương đượm” như chính cõi lòng nàng đã giá băng, tiếng hạt “mưa phun” như tiếng lòng nàng đang vỡ nát, tan tành theo nỗi nhớ. Đó cũng chính là sự tan vỡ của những khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ. 
 
Với việc sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật như so sánh, câu hỏi tu từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ, cùng với bút pháp tả cảnh ngụ tình đầy bộc lộ nội tâm nhân vật một cách tinh tế. Những câu thơ trong “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” như chứa chất nỗi đau, nỗi nhớ và khao khát hạnh đôi lứa, thể hiện sâu sắc và thấm thía nhất chủ đề của tác phẩm.
 

Bài mẫu số 3: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Chuẩn)

Trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, cuộc đời người phụ nữ luôn gắn liền với những đau khổ và bất hạnh. Dù có phẩm cao quý, tốt đẹp đến đâu thì số phận của họ vẫn đầy rẫy những bi kịch. Một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc đời đầy những đau thương, nước mắt của họ chính là tấn bi kịch do chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra. Bài thơ “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của tác giả Đặng Trần Côn là tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ điều này. Qua những câu thơ chất chứa tâm trạng và dòng độc thoại nội tâm nhân vật, thi phẩm đã khắc họa nỗi đau khổ cũng như khát khao về hạnh phúc lứa đôi, về mái ấm gia đình của người chinh phụ trong những tháng ngày xa cách và mong chờ người chinh phu trở về.

Bằng thể thơ song thất lục bát, “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã khắc họa thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình thông qua sự cô đơn và nỗi nhớ thương, trông mong của người chinh phụ trong những tháng ngày người chinh phu ra trận. Trước hết, tác giả đã tập trung khắc họa tâm trạng cô đơn của người chinh phụ trong những năm tháng lẻ loi:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa thác rủ đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường rằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu chẳng nói nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ đã được tái hiện thông qua hành động lặp đi lặp lại mang tính tuần hoàn. Nàng “gieo từng bước” âm thầm trong hiên vắng, đưa ánh mắt xa xăm hướng ra ngoài để trông ngóng, chờ đợi tin tức tốt lành từ người chinh phu. Cuộc sống của nàng giờ đây tù túng, bế tắc, bó hẹp trong không gian “vắng” và “thưa”. Không nhận được sự hồi đáp từ niềm trông mong, hi vọng tin tức tốt lành về người chồng, nàng mong muốn nhận được sự đồng cảm của từ ngọn đèn, nhưng rồi ngọn đèn leo lét giữa đêm khuya không đủ sức san sẻ và sưởi ấm nỗi lòng cô đơn đến giá lạnh, “bi thiết” của người chinh phụ. Dòng thời gian vô hình cứ trôi đi trong âm thầm, nhưng nàng vẫn cảm nhận được bước đi lặng lẽ đó: “Gà óc eo gáy sương năm trống”. Sự ý thức về thời gian giữa đêm khuya vắng cũng là một trong những biểu hiện của tâm hồn trống trải, khiến nỗi cô đơn như trải dài bất tận cùng “khắc giờ đằng đẵng” và “mối sầu dằng dặc”. Trong không gian vắng vẻ của căn phòng, nàng lại tiếp tục đối mặt với sự hiu quạnh:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy phím đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại ngùng”

Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần đã diễn tả thành công hành động mang tính chất thụ động, gượng gạo của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để lòng mình thanh thản, nhưng lại càng bị cuốn sâu hơn vào bờ vực cô đơn, nàng miễn cưỡng soi gương nhưng khi đối diện với chính mình thì nước mắt lại chứa chan, nàng “gượng gảy phím đàn” nhưng tình cảnh lẻ loi hiện tại khiến nàng e ngại, lo sự, bất an về những điều không hay. Dù cố gắng đến đâu thì người chinh phụ vẫn không thể vượt thoát sự cô đơn đến ám ảnh đang xâm chiếm tâm hồn. Và rồi trong hiu quạnh, nàng nhớ về người chinh phu:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Nàng gửi gắm nỗi nhớ vào “gió đông”, mong làn gió đem sự trông ngóng đến miền biên ải xa xôi – nơi “non Yên” mà người chồng đang chiến đấu. Dường như không còn làm chủ được cảm xúc và kìm nén được lòng mình, nỗi nhớ thương đối với người chinh phu đã được bộc bạch một cách trực tiếp: “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”, “Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”. Những câu thơ ngân vang với âm hưởng thống thiết và bi thương đã làm nổi bật sắc thái của nỗi nhớ giờ đây là sự “thăm thẳm” và gắn với nỗi đau, nỗi sầu “đau đáu”. Nỗi nhớ của nàng đối với chồng đã bủa vây trong tâm trí, không ngừng tăng tiến qua từng cung bậc cảm xúc và cuối cùng hóa thành nỗi đau đớn đến tuyệt vọng. Như vậy, dòng nội tâm của nhân vật trữ tình đã được tác giả khắc họa thành công qua việc miêu tả những hành động lặp đi lặp lại, qua những yếu tố về ngoại cảnh và sự diễn biến của những sắc thái, cung bậc cảm xúc. Qua việc khắc họa tâm trạng cô đơn cùng nỗi nhớ của người chinh phụ, đoạn trích đã thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo vô cùng sâu sắc. Trước hết, đó là việc phản ánh chân thực, rõ nét xã hội phong kiến mục nát cùng số phận bi kịch của người phụ nữ. Qua đó, tác giả cũng lên án, tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã tước đoạt hạnh phúc chính đáng của con người. Tham vọng quyền lực của các tập đoàn cát cứ phong kiến là nguồn cơn dẫn đến cảnh binh đao, khói lửa, gây ra bao đau thương, tang tóc, lầm than. Đồng thời, bài thơ còn thể hiện tiếng nói xót thương, đồng cảm của tác giả đối với thân phận người phụ nữ - những nạn nhân chịu nhiều đau thương trong xã hội xưa. Qua nỗi cô đơn và nỗi nhớ của người chinh phụ, ta còn thấy được niềm khao khát mãnh liệt về hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình.

Bằng thể thơ song thất lục bát dân tộc, giọng thơ thống thiết, bi thương kết hợp với các biện pháp tu từ và điển cố điển tích, trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện rõ tài năng miêu tả và khắc họa tâm lí nhân vật của tác giả Đặng Trần Côn. Qua đó, chúng ta thấy được bi kịch trong nỗi cô đơn và nỗi nhớ “thăm thẳm” của những người chinh phụ luôn “đau đáu” trông mong tin tức của người chinh phu nơi biên ải xa xôi.

http://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-tinh-canh-le-loi-cua-nguoi-chinh-phu-42025n.aspx
Bài thơ Chinh phụ ngâm là tác phẩm nổi bật trong ngữ văn lớp 10, ngoài bài làm văn Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, học sinh và giáo viên có thể tham khảo thêm các bài làm văn mẫu Nghị luận về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Viết lại nội dung đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ theo lời của người chinh phụ, hay cả phần Soạn văn lớp 10 - Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Tác giả: Trần Hoạt     (4.4★- 35 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Phân tích hình ảnh viên Quan phụ mẫu trong truyện ngắn Sống chết mặc bay
Phân tích nỗi sầu chia li của người vợ trong Sau phút chia li
Phân tích bài Thu hứng của Đỗ Phủ để thấy cảnh và tình của tác phẩm
Phân tích cảnh Ra-ma buộc tội Xi-ta
Phân tích nhân vật Thị Nở
Từ khoá liên quan:

phan tich tinh canh le loi cua nguoi chinh phu

, Bài văn mẫu Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ điểm 10, Phân tích đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ,

SOFT LIÊN QUAN
  • Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn trong ngân hàng

    Niên luận: Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn trong ngân hàng

    Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn trong ngân hàng là đề tài mà niên luận này nghiên cứu, một bạn sinh viên nghành ngân hàng đã chọn nội dung và đề tài này để làm niên luận đề cập tới đầy đủ vấn đề của một môn học ...

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá