Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ

Đề bài: Cảm nhận về tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.

Nội dung bài viết:
I. Dàn ý.
II. Văn mẫu.
  1. Bài mẫu số 1.
  2. Bài mẫu số 2.

Dàn ý, văn mẫu phân tích Tấm lòng của nhà văn To Hoài đối với người dân Tây Bắc qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

 

I. Dàn ý Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ

1. Mở bài

- Sơ lược về nhà văn Tô Hoài và phong cách cầm bút.

- Vợ chồng A Phủ là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Tô Hoài viết về vùng núi rừng Tây Bắc, mà qua đó ta thấy được tấm lòng sâu nặng của nhà thơ đối với đồng bào các dân tộc miền núi thông qua hai nhân vật Mị và A Phủ.

>> Tham khảo thêm nhiều các viết mở bài truyện Vợ chồng A Phủ Tại đây
 

2. Mở bài

a. Tấm lòng xót thương đồng cảm với những số kiếp nô lệ đớn đau, bất hạnh dưới ách thống trị của thần quyền và cường quyền:

- Tô Hoài là nhà văn đầu tiên viết về người phụ nữ miền núi, giữa cảnh núi rừng Tây Bắc với những thương đau, trái ngang tột cùng.
- Diễn tả nỗi khổ của Mị bằng những câu văn thật xúc động và với tấm lòng thương xót, ví như cảnh: "Ngày ngày cô ngồi bên một tảng đá, cạnh tàu ngựa, cúi mặt buồn rười rượi", hay "Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng
- Cực kỳ thấu hiểu nỗi đớn đau của một người phụ nữ làm dâu nhà giàu với tư cách gán nợ, ông lần theo từng diễn biến tâm lý của Mị, lúc Mị muốn tự tử, lúc Mị muốn đi chơi, lúc Mị nghĩ về cuộc đời khốn khổ của mình.
=> Từng lời văn, từng diễn biến tâm trạng của Mị, từng nỗi đau đớn tận cùng của cô cũng chính là nỗi đau của Tô Hoài, ông đau xót, rơi lệ cho những kiếp người khốn khổ, đặc biệt là người phụ nữ dưới chế độ thực dân - nửa phong kiến này.

- Đối với A Phủ nhà văn cũng dùng ánh mắt thương cảm đối với sự bất hạnh của một chàng trai xuất thân nghèo khó ở Hồng Ngài đại diện cho biết bao nhiêu con người nơi đây.
=> Sự xót thương, đồng cảm sâu sắc đối với những con người như Mị và A Phủ đồng thời cũng là lời tố cáo, lên án mạnh mẽ sự tàn ác vô nhân đạo, sự bất công của chế độ cũ đối với đồng bào miền núi.

b. Tấm lòng trân trọng vẻ đẹp của những con người miền núi:

- Tô Hoài trân trọng và yêu thương cái sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị, mà có những khi tưởng nó đã hoàn toàn bị cái khổ cái tuyệt vọng tăm tối dập tắt, thế nhưng với sức sống tiềm tằng mạnh mẽ dù chỉ là một tàn than còn hơi đỏ thôi nhưng nó đã lập tức bùng cháy khi gặp gió xuân về.
=> Trong mắt Tô Hoài Mị là người phụ nữ hội tụ của nhiều vẻ đẹp từ ngoại hình, đến tài năng và cả vẻ đẹp của sức sống và sức phản kháng mãnh liệt.
- Với A Phủ cũng vậy, Tô Hoài trân trọng và thương yêu vẻ đẹp thuần nông chất phác, chăm chỉ làm lụng kiếm sống, trân trọng cái lòng yêu cuộc sống của anh, điều ấy được thể hiện một cách tinh tế thông qua giọt nước mắt của A Phủ trong đêm bị trói.

c. Tấm lòng yêu thương tìm lối thoát cho nhân vật của mình, đồng thời là ước vọng giải thoát cho đồng bào miền núi bằng ánh sáng cách mạng.

- Tô Hoài đã mạnh mẽ cổ vũ đồng bào miền núi đứng dậy đấu tranh với tấm lòng yêu thương và gắn bó.
- Chỉ ra làm cách mạng chính là con đường duy nhất để họ tự giải thoát, tự cứu lấy bản thân, đòi lại tự do hạnh phúc của bản thân mình.

3. Kết bài

- Tổng kết và nêu cảm nhận cá nhân.
 

II. Bài văn mẫu Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ

 

1. Bài văn Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ hay nhất số 1

1.1. Dàn ý Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi:
1.1.1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Khái quát về tinh thần nhân đạo, tấm lòng của tác giả với đồng bào miền núi được thể hiện qua tác phẩm. 
1.1.2. Thân bài: 
a, Sự xót thương, đồng cảm với những kiếp người đau đớn, khổ sở vì ách thống trị của thần quyền và cường quyền: 
* Diễn tả sâu sắc sự khổ cực của người dân qua hình ảnh hai nhân vật Mị và A Phủ: 
- Cuộc sống bất hạnh của Mị: 
+ Bị bắt về làm dâu gạt nợ.
+ Bị tước đi quyền tự do, quyền hạnh phúc.
+ Bị bóc lột sức lao động.
-> Sự thấu hiểu đối với số phận đáng thương của những người phụ nữ làm dâu nhà giàu trong xã hội thực dân nửa phong kiến. 
- Sự bất hạnh của A Phủ: 
+ Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, bị coi như một món hàng để trao đổi. 
+ Vì nghèo, không quyền không thế mà bị chèn ép, trở thành người ở không công cho nhà thống lí. 
-> Đại diện cho những người dân nghèo khó, bị bọn thực dân, chúa đất chèn ép, bóc lột.
* Lên án, tố cáo tầng lớp thống trị: 
- Hình ảnh chơi bời của cha con thống lí cùng bọn tay sai.
- Sự độc ác, vô nhân tính của A Sử. 
b, Sự trân trọng dành cho vẻ đẹp của những con người miền núi: 
- Tô Hoài trân trọng vẻ đẹp của con người: 
+ Hình ảnh bà con nhân dân miền núi với những phong tục, tập quán đáng trân trọng.
+ Mị xinh đẹp, trẻ trung, có tài thổi sáo.
+ A Phủ chăm chỉ, khỏe mạnh, tích cực làm lụng để kiếm sống. 
- Tô Hoài trân trọng sức sống mãnh liệt của con người: 
+ Mị tưởng như đã vô cảm, cam chịu số phận thì trong đêm tình mùa xuân, tâm hồn cô lại được sống dậy.
+ Mị vượt thoát, cởi trói cho A Phủ -> Hành động phản kháng mãnh liệt.
+ A Phủ được cởi trói, tuy đã kiệt sức nhưng vẫn vùng thoát, chạy khỏi chốn địa ngục trần gian. 
c, Sự yêu thương, niềm hi vọng và ước mơ giải thoát cho bà con đồng bào miền núi bằng con đường cách mạng: 
- Thể hiện niềm tin vào sức sống mãnh liệt, sức phản kháng tiềm tàng trong những con người luôn chịu chèn ép, áp bức. 
- Mạnh mẽ cổ vũ bà con đồng bào đứng dậy đấu tranh, giành lại tự do và hạnh phúc cho cuộc sống của chính mình. 
- Chỉ ra làm cách mạng là con đường đúng đắn nhất, cũng là con đường duy nhất để con người tự giải thoát bản thân khỏi ách đô hộ, tự tìm lại hạnh phúc cho chính mình. 
1.1.3. Kết bài:
- Khẳng định lại tấm lòng nhân đạo của tác giả đối với bà con đồng bào miền núi qua tác phẩm. 
- Liên hệ mở rộng.

1.2. Bài văn mẫu Phân tích tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua tác phẩm "Vợ chồng A Phủ": 

Tô Hoài được biết đến là nhà văn có sức sáng tác lớn trong nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Ông vốn có nhiều hiểu biết phong phú về phong tục, tập quán của những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam. Nhờ vậy, nhà văn đã mang đến các tác phẩm viết về cuộc sống của bà con đồng bào miền núi. Đặc biệt trong số đó phải nhắc tới truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ. Với tác phẩm này, ông thể hiện rất rõ tấm lòng nhân đạo của mình qua từng hình ảnh, chi tiết. 

Trước tiên, qua "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã bày tỏ sự xót thương, đồng cảm với những kiếp người đau đớn, khổ sở vì ách thống trị của thần quyền, cường quyền. Qua cuộc sống của Mị, ông thể hiện lòng thấu hiểu với số phận đáng thương của những người phụ nữ trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Vốn là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, Mị đột nhiên bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Cô bị tước đi quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc. Thay vào đó, Mị trở thành người ở, thậm chí còn không bằng cả con trâu, con ngựa. Cô bị bóc lột sức lao động, làm việc suốt cả đêm ngày. Thậm chí, Mị còn phải chịu những trận đòn từ chồng, bị trói đứng vào cột mà chẳng một ai mảy may quan tâm. Hay như nhân vật A Phủ - một chàng trai khỏe mạnh với sức sống mãnh liệt. Mất cả cha và mẹ từ nhỏ, A Phủ bị coi như một món hàng để đem ra trao đổi, buôn bán. Vốn không quyền không thế, anh phải chịu sự chèn ép từ bè lũ thống trị, trở thành người làm không công cho nhà thống lí. A Phủ chính là đại diện cho những người dân nghèo trong xã hội, luôn phải gánh chịu những sự chèn ép, bóc lột của bọn thực dân, chúa đất. Qua đây, Tô Hoài cũng mạnh mẽ lên án, tố cáo tầng lớp cai trị lúc bấy giờ. Đó là cha con thống lí Pá Tra và bọn tay sai - những kẻ vô nhân tính, sống dựa trên mồ hôi xương máu của bao người dân lương thiện. 

Không chỉ vậy, truyện ngắn còn là một lời gửi gắm trân trọng, một sự ca ngợi dành cho vẻ đẹp của những con người lao động miền núi. Tuy phải chịu cảnh áp bức, bóc lột từ bè lũ thống trị, người dân làng Hồng Ngài vẫn hiện lên với bao phong tục, tập quán đáng quý. Đó là những cuộc chơi vào ngày Tết, là tiếng sáo gọi bạn tình đầy vui tươi trong đêm mùa xuân rộn ràng, là hình ảnh gái trai, già trẻ nô đùa, chơi đánh pao, đánh quay. Không gian tràn ngập sự sống ấy dường như đã làm lu mờ đi cái khổ cực, tàn nhẫn ở thực tại. Tô Hoài trân trọng những điều nhỏ bé ấy, trân trọng cả sức sống, sức phản kháng mạnh mẽ của con người. Nhân vật Mị xinh đẹp, trẻ trung bị nhà thống lí vùi dập, tưởng như đã cam chịu số phận. Nhưng trong đêm tình mùa xuân, nhờ những chất xúc tác từ bên ngoài, tâm hồn cô như trẻ lại. Ngọn lửa sự sống âm ỉ giờ đây bừng cháy dữ dội, khiến cô có những hành động để phản kháng, vượt thoát ra khỏi thực tại. Còn A Phủ, khi được Mị cởi trói cho, tưởng như cạn kiệt sức lực, nhưng lại cố gắng vùng dậy để chạy trốn. Cả hai nhân vật ấy đều đại diện cho những người dân phải chịu áp bức, bóc lột đến cùng cực. Họ đã dám đứng lên, tự tìm đến hạnh phúc, tự do cho chính mình. 

Bên cạnh đó, "Vợ chồng A Phủ" còn là phương tiện truyền tải sự yêu thương, niềm tin và hi vọng của nhà văn về việc giải thoát cho bà con đồng bào bằng con đường cách mạng. Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện niềm tin vào sức sống mãnh liệt cùng sức phản kháng tiềm tàng trong những con người nhỏ bé ấy. Ông mạnh mẽ cổ vũ bà con đồng bào đứng dậy để đấu tranh, giành lại tự do, hạnh phúc cho bản thân. Ở đoạn cuối tác phẩm, tác giả đã nhắc đến việc quân Pháp tràn tới. Dưới sự giúp đỡ và dẫn dắt của các cán bộ Đảng, A Phủ, Mị cùng nhân dân nhất mực đứng lên bảo vệ quê hương. Ông chỉ ra cách mạng chính là con đường đúng đắn nhất, cũng là con đường duy nhất để toàn dân được tự do, thoát khỏi ách đô hộ của bọn thực dân. 

Như vậy, có thể thấy tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài không chỉ gói gọn trong việc ông thương xót, đồng cảm với những số phận nhỏ bé, bất hạnh. Nó còn được thể hiện ở việc ông đã ngợi ca nét đẹp của con người, đề cao giá trị truyền thống của đồng bào miền núi. Đồng thời, lên án chế độ thống trị thối nát trong xã hội thực dân nửa phong kiến khi xưa. Qua đó, độc giả lại càng thấy rõ hơn tình yêu thương mà ông dành cho những con người nơi đây. Tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" chính là một "bảo chứng" cho tài năng nghệ thuật của Tô Hoài. 

 - - - - - - - - - - - - - - - - - - -  HẾT - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Có thể thấy, tài năng của Tô Hoài không chỉ đến từ một tâm hồn đậm chất văn chương mà còn xuất phát từ tình yêu thương, sự gắn bó với con người.  Tìm hiểu về tác phẩm, bên cạnh bài Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ, các em có thể tham khảo thêm: Phân tích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Phân tích hành động cởi trói của Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Phân tích Giá trị nhân văn trong Vợ chồng A Phủ, Phân tích Giá trị hiện thực truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, mở bài Vợ chồng A Phủtóm tắt Vợ chồng A Phủ

 

2. Bài văn Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ hay ngắn số 2

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn, tác gia lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ trước, trong hơn 60 năm cầm bút ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị với nhiều thể loại khác nhau bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dài, hồi ký, tiểu luận, thậm chí tham gia viết kịch bản phim,... mà trong mỗi tác phẩm ông đều để lại dấu ấn của riêng mình. Có thể nói rằng Tô Hoài cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, và Huy Cận đã làm nên một thế hệ vàng trong làng gieo trồng những mầm mống văn chương đặc sắc, tạo ra những bước ngoặt lớn trong lịch sử văn học nước nhà. Một điều đặc biệt ở Tô Hoài rằng, ông là một trong số những nhà văn hiếm hoi dễ dàng thích nghi và có tình cảm gắn bó với những vùng đất mới, dù chỉ trong thời gian ngắn thế nhưng dường như những kỷ niệm đã khắc sâu vào trong tâm hồn tác giả trở thành nguồn cảm hứng của những tác phẩm đặc sắc. Và có lẽ sau Hà Nội - mảnh đất chôn rau cắt rốn của tác giả, nơi mà trong tâm hồn nhà văn đã trở thành bất tử thì vùng núi Tây Bắc chính là mảnh đất được ông trân trọng và dành nhiều tình cảm hơn cả. Vợ chồng A Phủ là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Tô Hoài viết về vùng núi rừng Tây Bắc, mà qua đó ta thấy được tấm lòng sâu nặng của nhà thơ đối với đồng bào các dân tộc miền núi thông qua hai nhân vật Mị và A Phủ.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải đã rất ngưỡng mộ và dành nhiều lời tâm huyết khi nói về phong cách viết văn của Tô Hoài, đặc biệt là cách mà nhà văn hòa nhập vào một vùng đất mới: "Trong những chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, nhà văn Tô Hoài luôn có tác phong vừa nghe người ta nói, vừa xem họ làm, vừa sinh hoạt với họ, đồng thời còn ghi chép lại. Có những đoạn ông ghi lại tiếng chim gáy trong rừng sâu như thế nào, tiếng chim gáy ở đồng bằng như thế nào. Hay như tiếng chim nuôi trong lồng, nhốt trong thành phố thế nào. Những đoạn ghi chép ấy ông đều đọc cho chúng tôi nghe. Mỗi cái đều có sự tinh tế khác nhau. Từ đó mới thấy nhà văn Tô Hoài làm việc rất tỉ mỉ và những điều ông đưa ra làm cho chúng ta tin được". Có thể nói rằng Tô Hoài là một nhà văn vô cùng kính nghiệp, việc tham gia vào cách mạng, giữ chức Chủ nhiệm tờ báo cứu quốc Việt Bắc, chủ bút tạp chí Cứu Quốc, đã hình thành những xu hướng mới trong văn của Tô Hoài. Ông không thích những cái gì sơ sài, qua loa, mà phải đi vào hiểu sâu tìm kỹ, với ông "Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói lên sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc". Những năm 1952, ông tham gia và chiến dịch giải phóng Tây Bắc, có cơ hội thâm nhập vào cứ điểm kháng chiến của các dân tộc Thái, Mường, Dao, đi dọc các tỉnh Tây Bắc, điều đó đã trở thành nguồn vốn rộng lớn để ông viết nên tuyển tập truyện Tây Bắc, trong đó có Vợ chồng A Phủ.

Trong Vợ chồng A Phủ Tô Hoài chỉ yếu hướng đến cái nỗi khổ đau của những con người miền núi vẫn đang hàng ngày tiếp diễn ở nơi đây, số kiếp nô lệ khiến họ không thể ngóc đầu lên được, cứ suốt kiếp phải làm trâu làm ngựa để phục vụ cường quyền và chỉ có cách mạng mới có thể soi sáng cuộc đời họ, mới đưa họ ra khỏi vũng lầy tăm tối. Ông viết bằng ngòi bút đậm tính nhân văn, khai sáng và chân thực, những chỗ tuy buồn tuy tuyệt vọng thế nhưng tác giả vẫn luôn để lại một tia hi vọng một tia sáng xuất phát từ chính nội tâm con người, đó là cái vẻ đẹp khó ai có thể nắm bắt được, tôi sẽ trình bày trong từng nhân vật sau. Đầu tiên Tô Hoài viết về cái bất hạnh của Mị, một người phụ nữ khốn khổ ở Hồng Ngài, Sơn La, có thể nói rằng viết về đề tài những con người khốn khổ, đớn đau không phải là một đề tài mới mẻ, cùng thời Tô Hoài, hoặc sau đó cũng có nhiều ngòi bút chọn lựa như Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố bởi nó mang tính hiện thực sâu sắc, là xu hướng của thời đại. Thế nhưng để viết về người phụ nữ miền núi, giữa cảnh núi rừng Tây Bắc với những thương đau, trái ngang tột cùng thì chỉ có duy nhất Tô Hoài là người viết hay và thành công nhất trong việc lột tả chân dung nhân vật. Đôi mắt của Tô Hoài nhìn Mị và cuộc sống đầy ải tựa như gánh núi, gánh non, sống không ra hình người, sống như một công cụ biết nói của cô rất chân thực và chi tiết. Điều đó có được cũng bởi lẽ đã từng có một vợ chồng A Phủ người thật việc thật tiễn chân ông về miền xuôi, với câu nói "Chéo lù!" (trở lại) làm nhà văn không thể nào quên. Tô Hoài trân trọng Mị, cũng như trân trọng tất cả những người phụ nữ ở Hồng Ngài và cả núi rừng Tây Bắc, ông miêu tả những thay đổi tinh tế trong tâm lý, trong nỗi đau khổ mà Mị phải gánh chịu. Tô Hoài diễn tả nỗi khổ của Mị bằng những câu văn thật xúc động và với tấm lòng thương xót, ví như cảnh: "Ngày ngày cô ngồi bên một tảng đá, cạnh tàu ngựa, cúi mặt buồn rười rượi", hay "Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng". Có thể thấy rằng Tô Hoài cực kỳ thấu hiểu nỗi đớn đau của một người phụ nữ làm dâu nhà giàu với tư cách gán nợ, ông biết rằng Mị thực chất chỉ là nô lệ, nhưng ông không nói ra mà chỉ dùng những câu từ chọn lọc để cho người đọc tự cảm nhận. Mị đã đau đớn và tủi nhục đến muốn ăn lá ngón để chết đi, nhưng rồi Mị lại không chết được bởi Mị chết rồi ai trả nợ cho cha. Mị một người phụ nữ xinh đẹp, có tài thổi sáo thế nhưng lại không được hưởng hạnh phúc lứa đôi, không được đi chơi ngày Tết, phải sống cuộc sống nô lệ, bị chồng đánh đập giam cầm, cả tuổi xuân của Mị dường như đã chết trong căn nhà ấy, Mị cứ sống "lầm lũi như con rùa trong xó cửa", thậm chí Mị còn chẳng bằng loài súc vật bởi con trâu con ngựa nó còn có lúc được nghỉ ngơi, còn Mị làm không bao giờ hết việc cả. Từng lời văn, từng diễn biến tâm trạng của Mị, từng nỗi đau đớn tận cùng của cô cũng chính là nỗi đau của Tô Hoài, ông đau xót, rơi lệ cho những kiếp người khốn khổ, đặc biệt là người phụ nữ dưới chế độ thực dân - nửa phong kiến này. Tương tự, đối với A Phủ nhà văn cũng dùng ánh mắt thương cảm đối với sự bất hạnh của một chàng trai xuất thân nghèo khó ở Hồng Ngài đại diện cho biết bao nhiêu con người nơi đây. A Phủ làm mất một con trâu, nhưng anh có đáng bị trói bị đánh đập một cách dã man, bị bỏ đói cho đến chết vậy không. Đến với số kiếp của A phủ Tô Hoài lại càng thêm đau xót, buồn bã trước sự bất công của xã hội lúc bấy giờ đối với những con người thấp cổ bé họng. Sự xót thương, đồng cảm sâu sắc đối với những con người như Mị và A Phủ đồng thời cũng là lời tố cáo, lên án mạnh mẽ sự tàn ác vô nhân đạo, sự bất công của chế độ cũ đối với đồng bào miền núi. Chính cái thần quyền và cường quyền của chế độ phong kiến đã cướp đi của họ tự do, hạnh phúc, làm họ tê liệt không thể phản kháng, phải chịu kiếp cam chịu suốt đời đầy đớn đau khổ sở, mà tiêu biểu cho tầng lớp thống trị tàn bạo ấy là cha con nhà thống lý Pá Tra.

Bên cạnh việc thông cảm xót thương cho những kiếp người khốn khổ, thì tấm lòng của Tô Hoài đối với đồng bào miền núi thể hiện qua việc ông tinh tế nhận ra và trân trọng những vẻ đẹp đáng quý của họ thông qua hai nhân vật Mị và A Phủ. Tô Hoài trân trọng và yêu thương cái sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị, mà có những khi tưởng nó đã hoàn toàn bị cái khổ cái tuyệt vọng tăm tối dập tắt, thế nhưng với sức sống tiềm tằng mạnh mẽ dù chỉ là một tàn than còn hơi đỏ thôi nhưng nó đã lập tức bùng cháy khi gặp gió xuân về. Điều ấy thể hiện rất rõ qua cảnh Mị nhận thức được mình còn trẻ, mị nghe thấy tiếng sáo, cô nhớ về những ngày xưa tươi đẹp khi còn tự do, và Mị cũng muốn được mặc quần áo đẹp được đi chơi. Và đáng quý hơn nữa nó là cuối cùng Mị cũng đã biết phản kháng, chắc hẳn Tô Hoài đã vui lắm, hạnh phúc lắm khi viết về cảnh Mị cởi trói cho A Phủ, rồi chạy theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài, nơi đã giam cầm nửa tuổi xuân của cô. Mị khao khát tự do và khi cơ hội đến Mị đã sẵn sàng đánh cược tất cả để theo đuổi cái tự do mà mình muốn có. Có thể nói trong mắt Tô Hoài Mị là người phụ nữ hội tụ của nhiều vẻ đẹp từ ngoại hình, đến tài năng và cả vẻ đẹp của sức sống và sức phản kháng mãnh liệt. Và với A Phủ cũng vậy, Tô Hoài viết về A Phủ, cũng với giọng văn trân trọng và thương yêu như thế, ở anh toát lên vẻ đẹp thuần nông chất phác, chăm chỉ làm lụng kiếm sống, A Phủ cũng có cuộc đời bất hạnh và cũng như Mị, cũng có lòng yêu cuộc sống giống như Mị, điều ấy được thể hiện một cách tinh tế thông qua giọt nước mắt của A Phủ trong đêm bị trói. Anh khóc vì biết mình không thoát được, anh muốn phản kháng, anh muốn được sống cuộc đời của anh mới chỉ bắt đầu nhưng lại đã gần kết thúc, thật may rằng chính giọt nước mắt quý giá ấy đã cứu sống anh và giải thoát cả cuộc đời của Mị. Tin rằng với độc giả và với cả Tô Hoài giọt nước mắt của A Phủ như một thứ có ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

Cuối cùng sau những tình cảm xót thương trân trọng, tấm lòng của Tô Hoài đã mở ra một con đường mới, một hướng đi mới cho hai nhân vật này, đồng thời cũng chính là lối đi cho nhiều kiếp người lầm than ở núi rừng Tây Bắc. Chỉ có ánh sáng của cách mạng, của Đảng mới có thể hoàn toàn giải phóng con người khỏi ách nô lệ, mới có thể đập tan xiềng xích phong kiến thần quyền và thần quyền. Tô Hoài đã mạnh mẽ cổ vũ đồng bào miền núi đứng dậy đấu tranh với tấm lòng yêu thương và gắn bó, bởi ông đã quá thấu hiểu những nỗi đớn đau mà họ phải chịu, bằng một cách nào đó ông phải đưa họ ra khỏi chỗ tăm tối và dẫn họ đến với cách mạng. Làm cách mạng chính là con đường duy nhất để họ tự giải thoát, tự cứu lấy bản thân, đòi lại tự do hạnh phúc của bản thân mình.

Tấm lòng với nhân dân miền núi của Tô Hoài không chỉ dừng lại ở việc ông đi sâu vào thế giới nội tâm và cuộc sống của nhân vật mà còn thể hiện ở việc ông chăm chỉ tìm hiểu và tiếp thu những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây rồi đưa vào tác phẩm của mình như một cách gìn giữ, một cách trân trọng chúng. Ta có thể dễ dàng thấy trong Vợ chồng A Phủ một tục lệ bắt vợ, một điệu nhạc bằng sáo lá, sáo cây một lễ hội chơi xuân, trai gái đánh pao, dìu dắt nhau đi chơi rộn ràng, những chiếc váy hoa sặc sỡ sắc màu, những nương ngô, nương lúa thấp thoáng,...Tất cả chúng đều là nét đặc sắc của đồng bào miền núi đã được Tô Hoài nghiên cứu và ghi chép thật tỉ mỉ thể hiện tấm lòng gắn bó và yêu thương sâu sắc của ông đối với mảnh đất miền cao này.

Có thể nói Vợ chồng A Phủ hay Truyện Tây Bắc là những tác phẩm khởi đầu xuất sắc của Tô Hoài khi tham gia vào nền văn học cách mạng, khi lần đầu viết về miền Tây Bắc xa xôi, mà ở đó ta thấy được một nhà văn với tư cách của người chiến sĩ cách mạng, với tấm lòng yêu thương, trân trọng và đồng cảm sâu sắc. Chính những tư tưởng cao đẹp ấy cùng với tinh thần viết văn chuyên nghiệp, tỉ mỉ và chi tiết đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về một Tô Hoài với tấm lòng tác giả đậm nét nhân văn trong từng tác phẩm.

------------ Hết ---------------

Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Tô Hoài viết về cuộc sống và số phận của người dân Tây Bắc trước cách mạng tháng Tám. 

Tình yêu thương luôn là một đề tài chưa bao giờ lỗi thời trong văn học. Đây cũng là phương tiện để nhiều tác giả thể hiện, bày tỏ sự gắn bó với thiên nhiên, con người. Hãy cùng tìm hiểu thêm về chủ đề phân tích Vợ chồng A Phủ này qua bài phân tích Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua Vợ chồng A Phủ trên Taimienphi.vn nhé!
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài hay
Ý nghĩa nhan đề Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài
Phân tích những ý thơ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Phân tích Giá trị hiện thực truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
So sánh kết thúc truyện Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ

ĐỌC NHIỀU