Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc

Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc

Nội dung bài viết:
I. Dàn ý.
II. Bài văn mẫu.
1. Bài mẫu số 1.
2. Bài mẫu số 2.
3. Bài mẫu số 3.
4. Bài mẫu số 4.
5. Bài mẫu số 5.

 Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc

 

Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

 

I. Dàn ý Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta:

1. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
- Giới thiệu nội dung đoạn thơ "Những đường Việt Bắc của ta… Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng": Khí thế dũng mãnh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến và niềm vui khi nghe tin chiến thắng từ mọi miền đất nước. 
2. Thân bài:
2.1. Cuộc hành quân trong đêm của con người kháng chiến:
a, Khí thế sôi nổi trong những đêm hành quân vào chiến dịch
:
- "Những đường Việt Bắc": Không gian rộng lớn, nhiều gồm, nhiều ngả.
- "của ta": Lời khẳng định chủ quyền mảnh đất quê hương thân thuộc.
- "đêm đêm": Thời gian liên tục, ngày này qua ngày khác.
- Nghệ thuật: Từ láy "rầm rập" kết hợp với phép so sánh "như là đất rung" -> Thể hiện khí thế hào hùng làm rung chuyển đất trời.
=> Sự lớn mạnh, khí thế hào hùng, mạnh mẽ, lực lượng đông đảo của quân đội ta.
b, Sự phối hợp chiến đấu của các lực lượng quân và dân:
* Đoàn quân "Quân đi điệp điệp trùng trùng/Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan"
- Từ láy "điệp điệp", "trùng trùng": Diễn tả số lượng đông đảo của đoàn quân ta, tạo âm hưởng như những đợt sóng vô tận, hết lớp này lại đến lớp khác. 
- "Ánh sao đầu súng": Ý thơ gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng thú vị:
+ Nhân hóa ánh sao như người bạn đồng hành cùng người chiến sĩ theo bước đường hành quân
+ Ẩn dụ ánh sao là ánh sáng của lí tưởng cách mạng ở ngay trên mũ, luôn soi sáng, dẫn đường và nhắc nhở người chiến sĩ hướng đến tương lai tương sáng. 
* Đoàn dân công "Dân công đỏ đuốc từng đoàn/Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay"
- "từng đoàn": số lượng rất nhiều, khó đếm được. 
- "đỏ đuốc", "muôn tàn lửa bay": Ánh lửa sáng xua tan cái lạnh lẽo, tối tăm nơi tối rừng.
- Nói quá "bước chân nát đá" thể hiện sức mạnh, khí thế mạnh mẽ, quyết tâm đánh bại kẻ thù của con người Việt Nam. 
* Đoàn xe ra chiến trường "Nghìn đêm thăm thẳm sương dày/Đèn pha bật sáng như ngày mai lên":
- Câu thơ đầu nói về những năm tháng đau khổ trong quá khứ, phải chịu cảnh nô lệ, bị đàn áp dã man.
- "Đèn pha bật sáng": Ánh sáng rực rỡ, bật lên một cách bất ngờ, phá tan đêm dài tăm tối, gọi "ngày mai lên".
- "Như ngày mai lên": Hình ảnh mang nghĩa biểu tượng, thể hiện niềm tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của dân tộc.
=> Mặc dù đoạn thơ miêu tả cảnh ban đêm nhưng lại có rất nhiều ánh sáng: ánh sao, ánh lửa từ ngọn đuốc, đèn pha.
=> Ánh sáng của hi vọng, của tương lai. Khẳng định rằng dù cuộc chiến vẫn còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi.
2.2. Sự chiến thắng sau những ngày tháng vất vả:
- "Tin vui": Tin báo thắng trận, quân và dân ta đã giành chiến thắng trong các chiến dịch.
- Điệp từ "vui" như tiếng reo mừng chiến thắng, thể hiện cảm xúc vui sướng, tự hào khi tin thắng gửi về.
- Liệt kê những tên tỉnh thành, địa danh trên đất nước -> Từ miền Bắc tới miền Nam, từ miền núi tới đồng bằng, chiến thắng trải dài trên toàn đất nước.
- Nhịp thơ dồn dập, vui tươi, náo nức cho thấy chiến thắng đến nhanh, bất ngờ, khiến cả dân tộc vui mừng. 
2.3. Nghệ thuật thơ:
- Hình ảnh thơ gợi nhiều liên tưởng, tượng tượng.
- Hệ thống từ láy giàu sức gợi hình.
- Các biện pháp tu từ được sử dụng khéo léo.
- Nhịp thơ nhanh, cho thấy sự mạnh mẽ, vui tươi, hăng hái của nhân dân ta. 
3. Kết bài:
- Khái quát lại về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. 
 

II. Bài mẫu Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng của Học sinh giỏi

 

Bài văn mẫu 1: Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc siêu hay

Sau những năm kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, cuối cùng quân và dân ta cũng đã giành được thắng lợi. Tháng 10 năm 1954, Đảng và các cơ quan Chính phủ đã chuyển từ vùng kháng chiến Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội. Nhân dịp này, nhà thơ Tố Hữu viết "Việt Bắc", kể lại một cách chân thực và sinh động chín năm nằm gai nếm mật nơi núi rừng. Trong bài, ông đã tái hiện lại khung cảnh ra trận rất hùng vĩ của đoàn quân.

"Những đường Việt Bắc của ta 

Đêm đêm rầm rập như là đất rung"

Hai câu thơ đầu đã cho người đọc thấy khí thế sôi nổi của những con người đang chuẩn bị cho chiến dịch lớn. Lời thơ đã khẳng định chủ quyền của quê hương yêu dấu "Những đường" chứ không phải là "một đường" hay vài đường "của ta". "Đêm đêm" là thời gian liên tục, nối tiếp nhau hết đêm này tới đêm khác. Trong khoảng thời gian và không gian đó, có những con người kháng chiến đang thực hiện nhiệm vụ của mình. "Rầm rập" thường diễn tả bước hành quân đầy khí thế với sức mạnh áp đảo của đội ngũ rất đông đảo và chỉnh tề. Từ láy tượng thanh "rầm rập" kết hợp với phép so sánh "như là đất rung" đã thể hiện khí thế hào hùng, mạnh mẽ, làm rung chuyển trời đất của toàn quân. 

Tinh thần đoàn kết dân tộc, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng quân và dân được thể hiện rất rõ ràng ở đoạn thơ này. Từ những đoàn quân, đoàn dân công đến những chiếc xe chở lương thực, đạn dược cùng hòa mình vào chiến dịch:

"Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên."

Đầu tiên, hình ảnh những người chiến sĩ hiện lên với khí thế mạnh mẽ, hào hùng qua từ láy "điệp điệp", "trùng trùng". Đây là từ thường dùng để chỉ những con sóng nhấp nhô, trùng điệp nối tiếp nhau vỗ vào bờ không bao giờ dứt. Từ đó, ta thấy được số lượng đông đảo của đoàn quân ta, tạo âm hưởng như những đợt sóng vô tận, hết lớp này đến lớp khác. Hành quân trong đêm tối, người lính không hề cô đơn mà đã có "ánh sao đầu súng" làm bạn. Đây dường như là một hình ảnh nhân hóa. Ánh sao như những người bạn thân thiết, tri kỉ đồng hành trong từng bước đi. Thế nhưng "ánh sao" cũng có thể ẩn dụ cho ánh sáng của lí tưởng cách mạng. Lí tưởng ấy ở ngay trên đầu mũ, luôn soi sáng, dẫn đường, tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ. 

Đoàn dân công cũng mang sức mạnh to lớn không kém gì những người lính. Họ có một đội ngũ đông đảo, góp phần lớn sức người cho chiến dịch. Biện pháp nói quá "Bước chân nát đá" thể hiện khí thế mạnh mẽ, vượt trội không thể xem thường cùng quyết tâm đánh thắng kẻ thù của con người Việt Nam. Người trong đoàn dân công cầm những ngọn đuốc mang ánh sáng xua tan đi cái lạnh lẽo, tăm tối nơi núi rừng. Sắc "đỏ" của ngọn "đuốc" và "lửa bay" cũng mang màu sắc bay bổng, thể hiện niềm vui, sự hứng khởi như người dân đang chuẩn bị tham gia ngày hội lửa trại vậy. Câu thơ này khiến ta nhớ đến lời Các Mác nói "Cách mạng là ngày hội của quần chúng". 

Góp phần thành công cho chiến dịch chính là những đoàn xe chở lương thực, thuốc men, đạn dược đến tiếp tế cho chiến trường. Mặc cho "Nghìn đêm thăm thẳm sương dày" thì vẫn sẽ có "Đèn pha bật sáng như ngày mai lên". Hai câu thơ là biện pháp ẩn dụ độc đáo của tác giả. "Nghìn đêm", "sương dày" nói về những năm tháng trong quá khứ, khi chưa có Cách mạng, nhân dân ta phải chịu sự áp bức và bóc lột dã man của bọn thực dân đế quốc. Chúng ta đã từng mất mát, chịu đựng đau thương nhưng chưa từng đớn hèn, biết bao nhiêu cuộc cách mạng đã nổ ra, với sự kiên trì của nhân dân, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng. "Đèn pha bật sáng" chính là ánh sáng của tương lai ấm no, hạnh phúc, ánh sáng của lí tưởng cách mạng xua tan đi lớp sương chướng khí hút máu nhân dân. Mặc dù đoạn thơ miêu tả khung cảnh hành quân vào ban đêm nhưng không hề tối tăm, mù mịt mà lại có rất nhiều ánh sáng: "ánh sao", ánh lửa từ ngọn đuốc, "đèn pha". Nhà thơ Tố Hữu như muốn ngầm thể hiện rằng tuy cuộc kháng chiến còn nhiều khó khăn gian khổ, đêm tối chưa tàn nhưng nhưng nhất định chúng ta sẽ giành lại được chiến thắng, gọi "ngày mai lên". 

Và niềm tin ấy đã trở thành sự thật. Sau những ngày tháng chiến đấu gian khổ, tin vui cũng đã được truyền đến, chiến thắng đã về với mọi miền Tổ quốc: 

"Tin vui chiến thắng trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng."

"Tin vui" chính là tin báo thắng trận. Tác giả đã liệt kê tên của rất nhiều tỉnh thành, địa danh trên đất nước, từ Bắc tới Nam, từ miền núi tới đồng bằng. Mọi mặt trận của chúng ta đều đã chiến thắng. Đất nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Từ "vui" được điệp lại cùng tên những địa danh như tiếng reo mừng, thể hiện cảm xúc vui sướng, tự hào của tác giả, của toàn dân. Nhịp thơ ngắn, dồn dập, náo nức cũng cho ta thấy sự bất ngờ, hạnh phúc đến nghẹn ngào. 

Có thể khẳng định rằng "Việt Bắc" chính là đỉnh cao của đời thơ Tố Hữu nói riêng và của thơ ca Cách mạng nói chung. Nghệ thuật của bài thơ là sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố đặc sắc. Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc rất dễ đọc, dễ nghe, dễ nhớ giúp tác phẩm trở nên gần gũi, bình dị hơn. Hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng, tưởng tượng như "ánh sao", "ánh sáng" gợi ra tương lai tươi sáng, hạnh phúc. Hệ thống từ láy giàu sức gợi hình "rầm rập", "điệp điệp", "trùng trùng" như cho ta thấy khí thế mạnh mẽ, quyết tâm của toàn dân tộc. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa cũng được sử dụng khéo léo, thể hiện dụng ý của tác giả một cách hết sức rõ ràng.

Chỉ bằng một vài câu thơ lục bát ngắn ngủi, Tố Hữu đã khắc họa được bức tranh toàn cảnh những ngày tháng cả dân tộc cùng nhau chung tay thực hiện chiến dịch giành lại độc lập cho dân tộc. Bức tranh đó có khí thế dũng mãnh của quân dân ta, có niềm sung sướng, hạnh phúc khi nghe tin chiến thắng từ mọi miền đất nước. Âm hưởng đầy tự hào, ngợi ca đất nước ấy đã trở thành cảm hứng quen thuộc trong những bài ca sau này của Tố Hữu:

"Mây trời của ta, trời thắm của ta

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" 

 - - - - - - - - - - - - - - - - - - -  HẾT - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

"Việt Bắc" là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của tác giả Tố Hữu, được coi là đỉnh cao của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp. Để hiểu rõ bài thơ, em có thể xem thêm các mẫu phân tích khác trên Taimienphi.vn như: Phân tích khổ 3 bài thơ Việt Bắc; Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc; Phân tích khổ 5 bài thơ Việt Bắc.

 

Bài mẫu số 2: Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc lớp 12 chọn lọc

1. Giới thiệu thời điểm sáng tác, xuất xứ, nội dung và chủ đề bài thơ Việt Bắc để giới thiệu đoạn thơ.

Bài thơ Việt Bắc được nhà thơ Tố Hữu viết vào tháng 10 - 1954, tức sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5 - 1954), miền Bắc được giải phóng. Các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ Việt Bắc (thủ đô của cuộc kháng chiến) về Hà Nội. Sự lưu luyến kẻ ở người về là nguồn cảm xúc lớn cho Tố Hữu viết nên bài thơ này. Bài thơ Việt Bắc được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 - 1954) của Tố Hữu. Bài thơ đã bộc lộ nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng (cũng chính là nhà thơ) đối với chiến khu Việt Bắc khi rời chiến khu về thủ đô Hà Nội. Bài thơ là lời ca ngợi phong cảnh và con người Việt Bắc: cảnh vật Việt Bắc đẹp, hùng vĩ... con người Việt Bắc đáng yêu, cảnh vật và con người nơi đây đã ghi dấu nhiều chiến công là làm nên những kỉ niệm thật vô cùng sâu sắc mà nhà thơ không thể nào quên được. Đặc biệt, trong bài thơ, Tố Hữu đã viết nên một khúc ca hùng tráng về con người kháng chiến và cuộc kháng chiến. Điều đó thể hiện rõ trong đoạn thơ sau:

Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như lá đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng

2. Gợi ý phân tích.

a) Tiêu đề bài thơ:

Bài thơ có tiêu đề là Việt Bắc. Việt Bắc được xem là quê hương của cách mạng, ở đây có Pắc Pó, nơi Bác Hồ đặt chân đầu tiên khi Người trở về nước (tháng 2/1941), ở đây, diễn ra hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, thành lập mặt trận Việt Minh. Việt Bắc lại có mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào - nơi họp Quốc dân đại hội ngày (16/8/1945) bầu ra ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc và cũng là nơi xuất phát của đội quân cách mạng tiến về giải phóng Thái Nguyên

Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Bắc là một chiến khu vững chãi, nơi đóng các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Việt Bắc cũng là nơi chứng kiến biết bao nhiêu chiến công oanh liệt, thể hiện khí thế hào hùng của quân và dân ta trong chín năm kháng chiến.

b) Hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong kháng chiến:

Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta là một cuộc kháng chiến toàn dân. Các tầng lớp nhân dân bất phân già trẻ, gái trai, lớn bé đều tham gia kháng chiến. Trong đó, nổi bật nhất là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. Người lính thời chống Pháp đã trải qua biết bao nhiêu hi sinh gian khổ nhưng rất hùng tráng và đầy lạc quan.

Hình ảnh hào hùng của đoàn quân ấy được thể hiện trong hai câu đầu của đoạn thơ:

Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Hai từ láy "điệp điệp" và "trùng trùng" đi liền nhau ở câu thơ có sức gợi tả đó, nó vừa gợi lên hình ảnh của một đoàn quân đông đúc, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của một đoàn quân. Đoàn quân ra mặt trận hùng tráng, mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

Câu thơ thứ hai đưực ngắt theo nhịp 4/4: "Ánh sao đầu súng / bạn cùng mũ nan" càng làm tăng thêm vẻ đẹp của người lính - một vẻ đẹp vừa mang tính lãng mạn vừa mang tính hiện thực sâu sắc. Hình ảnh "Ánh sao đầu súng" có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân như "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; "ánh sao đầu súng" ấy cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi, như nhà thơ Vũ Cao trong bài Núi đôi đã viết:

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Góp phần vào sự hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta có cả một tập thể quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến. Họ là những "dân công đỏ đuốc từng đoàn" tải lương thực, súng đạn để phục vụ cho chiến trường. Hình ảnh của họ cũng thật đẹp, thật hào hùng và đầy lạc quan không kém những người lính:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Dấu chân nát đá, muôn tàn lửa bay

Bằng một cách nói cường điệu "dấu chân nát đá ", nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng, ý chí quyết tâm đánh thắng quân thù của người nông dân lao động. Người nông dân lao động (lực lượng nòng cốt của cách mạng) là lực lượng góp phần rất lớn để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn sau này - Họ là những người nông dân đôn hậu, chất phác, lớn lên từ bờ tre, gốc lúa nhưng họ đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những tình cảm và hành động cao đẹp, họ bất chấp những hi sinh, gian khổ, chấp mưa bom bão đạn của quân thù, đạp bằng mọi trở lực để đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói trong bài Đất Nước:

Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng.

Hai hình ảnh "dấu chân nát đá" và "muôn tàn lửa bay" đã thể hiện cái khí thế hào hùng đó của nhân dân.

Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta...trong bài Việt Bắc

Dù có trải qua bao nhiêu gian khổ, có nghìn đêm đi trong "thăm thẳm sương dày" nhưng niềm lạc quan tin tưởng vào ngày mai thắng lợi vẫn sáng ngời. Như "ngọn đèn pha bật sáng" giữa cái "nghìn đêm thăm thẳm sương dày" ấy, mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, đó chính là ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi đường cho dân tộc ta bước qua đêm trường nô lệ để đến một ngày mai tươi sáng, một thời đại thắng lợi huy hoàng của cách mạng - một thời đại độc lập, tự do:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Chính những sức mạnh ấy, niềm tin ấy đã đem lại những niềm vui chiến thắng. Những tin vui chiến thắng dồn dập, liên tục trên nhiều mặt trận được gửi về làm nức lòng quân và dân ta:

Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng

Điệp từ "vui" được lặp đi lặp lại nhiều lần gợi lên những đợt sóng tình cảm trào dâng, đợt sóng này kế tiếp đợt sóng kia cứ dâng lên, dâng lên mãi, tràn ngập tâm hồn nhà thơ, trong lòng quân dân cả nước.

3. Kết luận:

Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thật sôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bật khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; đồng thời đoạn thơ còn thể hiện niềm lạc quan cách mạng, ý chí chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, làm nên những chiến thắng vẻ vang, mang niềm vui về cho dân tộc. Đoạn thơ như một đoạn sử thi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

-----------------------HẾT BÀI 1-----------------------

Tìm hiểu chi tiết về bài thơ Việt Bắc để thấy được những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật cũng như tài năng của nhà thơ Tố Hữu, bên cạnh bài văn mẫu trên đây, các em có thể tìm đọc thêm: Cảm nhận về đoạn trích trong bài thơ Việt Bắc, Phân tích 8 câu đầu của bài Việt Bắc, Tố Hữu, Bình giảng bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc, Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc trong bài Việt Bắc, Tố Hữu.
 

Bài mẫu số 3: Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc ngắn gọn nhất

Đoạn thơ trích trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu diễn tả cảm xúc đầy chất sử thi và lãng mạn của cái Tôi thi sĩ về một Việt Bắc - căn cứ kháng chiến hào hùng với biết bao kỉ niệm chiến đấu và chiến thắng.

Ở những đoạn thơ trước, Tố Hữu bày tỏ nỗi niềm về Việt Bắc cảnh và người ân tình, ân nghĩa, thuỷ chung son sắt; một Việt Bắc nghèo mà chân tình, rộng mở thì ở đoạn thơ này, nhà thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt động tập nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức. Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng; đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên, con người Việt Bắc cùng sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân kháng chiến:

Những đường Việt Bắc của ta
Ngày đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

Khổ thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ của một sử thi hiện đại. Chỉ một vài nét phác hoạ khung cảnh hùng tráng của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho người độc thấy khí thế hào hùng, mạnh mẽ của khối đoàn kết toàn dân toàn diện, của sự hoà quyện, gắn bó giữa thiên nhiên với con người - tất cả tạo thành hình đất nước đứng lên chiến đấu vì độc lập tự do, vì hạnh phúc, tương lai của dân tộc.

+ Bức tranh hoành tráng trước hết được thể hiện ở không gian rộng lớn, những nẻo đường chiến khu Việt Bắc giờ đây là của ta. Đêm đêm những bước chân hành quaan rầm rập, làm rung chuyển của đất trời, bước chân của những con người khổng lồ đội trời đạp đất, làm nên những kì tích anh hùng.

Bài văn Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta trong Việt Bắc

+ Nổi bật lên là hình ảnh quân đội nhân dân Việt Nam, ý thơ phô trương sức mạnh hùng hậu: Quân đi điệp điệp trùng trùng/Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan, chỉ với hai câu mà tạc được bức phù điêu điệp trùng, hùng vĩ của Việt Bắc kháng chiến. Càng đẹp đẽ và sống động hơn là hình ảnh ánh sao đầu úng lấp lánh dười trời đêm, khiến người đọc nhớ đến "Đầu súng trăng treo" của Chính Hữu. Những câu thơ giàu chất tạo hình, vừa hiện thực, vừa lãng mạn gợi nhiều liên tưởng về vẻ đẹp của người chiến sĩ.

+ Hình ảnh của Dân công đỏ đuốc từng đoàn cũng kì vĩ và tràn đầy sức mạnh. Kháng chiến của chúng ta là cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, người người đánh giặc, nhà nhà đánh giặc, nông dân miền xuôi tấp nập lên đường đóng góp sức người sức của cho tiền tuyến lớn. Hình ảnh của họ thật hào hùng, hoành tráng qua câu: Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay, sự kết hợp kì diệu giữa hình ảnh thực và những liên tưởng lãng mạn bay bổng vừa làm sống dậy nguồn sức mạnh to lớn của một dân tộc, vừa thần thoại hoá sức mạnh của con người, sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bước chân của họ là bước chân của những con người đội đá vá trời, rung chuyển càn khôn, đạp bằng mọi gian nguy làm nên chiến thắng kì diệu khiến thế giới phải khâm phục.

Cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng đã khiến ý thơ được mở rộng đến viễn cảnh tương lai tươi sáng:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Nhà thơ sử dụng hình ảnh Nghìn đêm thăm thẳm sương dày/ Đèn pha bật sáng như ngày mai lên diễn tả cảm hứng tự hào, lạc quan tin tưởng về một tương lai tươi sáng của chiến khu trường kì gian khổ. Dù hôm này cà cả nghìn đêm đã qua, dân tộc phải chìm trong thăm thẳm của khói lửa đau thương; tăm tối, mịt mù của chiến tranh, của đói nghèo thì hãy tin rằng ngày mai, ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng. Cuộc đời sẽ rộng mở, tươi sáng như ánh đèn pha đang chiếu vào bóng tối, sương mù, mở đường cho xe ta ra mặt trận. Chúng ta sẽ được độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. Nhịp thơ cũng từ cảm hứng ấy mà trở nên mạnh mẽ, dồn dập như âm hưởng bước chân hành quân của quân và dân ta, nườm nượp, trùng điệp trên những nẻo đường ra trận. Hệ thống từ vựng mở căng độ diễn tả (Nát đá, thăm thẳm, bật sáng.). Hình ảnh con người kì vĩ, ý thơ phóng xa vào viễn cảnh. Tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ngợi ca sức mạnh của nhân dân anh hùng, đất nước anh hùng.

Việt Bắc là căn cứ địa hào hùng, mồ chôn giặc Pháp, nhà thơ không thể không nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi của trăm miền hoà với những chiến công lừng lấy cùng Việt Bắc đã đi vào sử xanh của dân tộc.

Tin vui chiến thắng trăm miềm
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Niềm vui chiến thắng tràn ngập những câu thơ, tràn vào tâm tư người độc niềm vui chiến thắng bất tận của chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Viết về Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng, Tố Hữu không thể viết riêng về một vùng đất mà trở thành biểu tượng cho sức mạnh kháng chiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí của toàn dân tộc trong cuộc trường chinh vĩ đại. Thơ ca cách mạng đã tìm được vẻ đpẹ toàn bích trong thành công của bài thơ Việt Bắc. Nhà thơ nói về lí tưởng, về cách mạng, về truyền thống tinh thần của dân tộc, đất nước với tình cảm say mê nồng nhiệt, với những rung động của một trái tim yêu nước. Tiếng lòng của nhà thơ cũng là tiếng lòng của nhân daan kháng chiến, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

 

Bài mẫu số 4: Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" trong bài Việt Bắc chi tiết siêu hay

Bài thơ "Việt Bắc" là một trong những thành công lớn của thơ Tố Hữu và thơ ca kháng chiến chống Pháp. Thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng của kẻ ở người đi đầy lưu luyến, vấn vương thương nhớ trong cuộc chia tay người về miền xuôi kẻ ở miền ngược sau ngày Thủ đô Hà Nội được giải phóng 10 - 10 - 1954, bài thơ không chỉ ngợi ca những tình cảm điển hình của con người kháng chiến mà còn tái hiện một cách chân thực và sinh động bức tranh "Việt Bắc ra trận" rất hùng vĩ qua những vần thơ hào hùng:

"Những đường Việt Bắc của ta
Đèm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên".

Ngay ở câu thơ đầu tiên mở đầu đoạn thơ, tác giả đã nêu lên cái nhìn khái quát chung cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đây là một cuộc chiến tranh sáng ngời chính nghĩa hợp với ý trời lòng dân. Cho nên lực lượng của ta ngày càng trưởng thành lớn mạnh không ngừng. Từ một đội quân chỉ có ba mươi tư người xuất phát từ cây đa Tân Trào hôm nào, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, hôm nay chúng ta đã có một đội quân hùng mạnh liên tiếp gặt hái được những chiến công chói lọi: Thu Đông, Sông Lô, Biên Giới... Giờ đây, chúng ta đang chuẩn bị tổng phản công bằng một chiến dịch lịch sử. Chúng ta hoàn toàn làm chủ chiến trường Việt Bắc cả về thê và lực. Cho nên đoàn quân ra trận hôm nay xuất phát từ mọi ngả đường Việt Bắc như những gọng kìm nhằm bao vây quân giặc đang co cụm ở những cứ điểm cuối cùng:

"Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung"

"Những đường" chứ không phải "một đường" và Việt Bắc là "của ta". Câu thơ bình dị mà chất chứa biết bao niềm tự hào về quang cảnh ra trận và khí thế của ta trên chiến trường.

Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta trong Việt Bắc, văn mẫu 12 đặc sắc

Câu thơ thứ hai mở ra một bối cảnh khác, đó là ngày kháng chiến chống Pháp, máy bay địch chủ yếu hoạt động ban ngày. Do đó ta phải hành quân đêm "xưa là rừng núi là đêm" (Tố Hữu). Trên các nẻo đường Việt Bắc đêm nối đêm cứ "rầm rập" tiến quân ra trận. Từ láy "rầm rập" là một từ tượng thanh rất gợi cảm. Nó diễn tả bước chân đi đầy khí thế hăng say và sức mạnh áp đảo của một tập thể người đông đúc có đội ngũ chỉnh tề. Với từ "rầm rập" đặc sắc ấy, cuộc ra trận của quân ta bỗng trở thành một cuộc duyệt binh, diễu binh hùng tráng:

"Xuân hãy xem! Cuộc diễn binh hùng vĩ
Ba mươi mốt triệu nhân dân
Tất cả hành quân
Tất cả thành chiến sĩ".

Vì thế mà bước chân của đoàn quân ấy đêm đêm như làm rung chuyển cả mặt đất. Hình ảnh thơ mang đậm màu sắc thần thoại.

Từ cái nhìn chung ở câu một và hai đến đây, tác giả đi vào cái nhìn cụ thể. Nếu câu trên, tác giả tả khí thế ra trận của quân ta qua ấn tượng thính giác, thì các câu sau, tác giả tả bằng thị giác: "Quân đi điệp điệp trùng trùng". Từ láy từ "điệp điệp trùng trùng" thật giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi lên trong ta những đoàn quân ra trận nối dài vô tận và rất hùng vĩ như những dãy núi kế tiếp nhau vậy. Sau này nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã viết:

"Từ nơi em gửi tới nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận"

Ở đây ta lại bắt gặp một hình ảnh thơ được viết với bút pháp cường điệu mang đậm màu sắc anh hùng ca. Vì vậy sức mạnh khí thế của đoàn quân ra trận đã được nâng ngang tầm với sức mạnh của thiên nhiên sông núi

"Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan". Câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng sâu xa. Trước hết nó diễn tả đoàn quân đi trong đêm, đầu súng lấp lánh ánh sao trời. Nhưng đó cũng là lấp lánh ánh sao lí tưởng:

"Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường"

(Vũ Cao)

Hình ảnh tươi sáng ấy kết hợp với hình ảnh chiếc mũ nan giản dị trang bị còn thiếu thốn của anh bộ đội, tạo cho anh một vẻ đẹp bình dị mà cao cả, bình thường mà vĩ đại. Nhà thơ Chính Hữu cũng đã có câu thơ rất hay "Đầu súng trăng treo".

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. Cho nên trong cuộc tổng phản công hôm nay có đủ mọi binh chủng, tầng lớp ra trận. Tiếp theo những binh đoàn bộ đội, là dân công tiếp tế lương thực, đạn dược. Cũng như những người chiến sĩ rầm rập lên đường, những nam nữ dân công cũng vào trận đầy khí thế và sức mạnh:

"Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay" "Nát đá" được viết theo phép đảo ngữ, từ dùng rất bạo khoẻ vừa gợi lên được những gánh hàng rất nặng vừa nói lên bước chân đầy sức mạnh tiến công của họ. Ngày nào dân ta mơ ước "trông trời, trông đất, trông mây... trông cho chân cứng đá mềm" thì giờ đây niềm mơ ước ấy đã trở thành hiện thực kỳ diệu ở chiến trường Điện Biên. "Muôn tàn lửa bay" lại là một hình ảnh rất đẹp. Đoàn dân công đi dưới ánh đuốc, có "muôn tàn lửa bay". Đó là lửa của đuốc đang bay, hay có cả ánh lửa từ trái tim của những anh, chị dân công hoả tuyến? ở hai câu thơ này, tấc giả sử dụng được nhiều hình ảnh giàu màu sắc tạo hình vừa chân thực, vừa bay bổng. Đoàn dân công đi vào chiến dịch mà như thể đi trong đêm hội hoa đăng. Thật đẹp đẽ biết bao mà cũng tự hào biết bao về khí thế và niềm vui ra trận của quân ta. Đúng "cách mạng là ngày hội của quần chúng" (Mác)

Hai câu thơ cuổì cùng của đoạn thơ cho ta thấy khí thế khẩn trương của cuộc kháng chiến:

"Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên"

Tiếp theo đoàn dân công là những đoàn xe chở vũ khí đạn được ra chiến trường. Xe nối đuôi nhau, đèn pha bật sáng trưng như ánh sáng ban ngày. Chỉ bằng một hình ảnh ấy, Tố Hữu đã diễn tả được cái đông đảo hùng mạnh của lực lượng cơ giới quân ta. Hai câu thơ có hai hình ảnh đối lập: "nghìn đêm thăm thẳm sương dày" với "đèn pha bật sáng như ngày mai lên" đã làm nổi rõ được sự trưởng thành vượt bậc của quân ta và niềm tin tất thắng của những người ra trận. Mới hôm nào, chúng ta phải mai phục, nương náu nơi rùng sâu, núi thẳm hàng ngàn đêm tăm tối gian khổ "thăm thẳm sương dày" để có giờ phút bừng sáng quật khởi đầy niềm tin chói lọi này.

Niềm vui nối tiếp niềm vui, "đèn pha bật sáng" để chiếu rọi hình ảnh nhân dân Việt Nam anh hùng trên vũ đài thế giới với những chiến thắng lẫy lừng:

"Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng"

Hàng loạt các địa danh gắn với chiến thắng vang dội được liệt kê liên tiếp: Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, Đèo De, Núi Hồng,... Nghe trong câu thơ có cái hào sảng, có niềm tự hào của những chiến thắng "trúc chẻ tre bay" Lê Lợi diệt giặc Minh trong "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi ngày trước:

"Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về
Ninh Kiều máu chảy thành sông tanh hôi vạn dặm
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm".

Chỉ bằng mười hai câu thơ, Tố Hữu đã khắc họa được một bức tranh cả dân tộc ra trận bằng cuộc chiến tranh nhân dân thật hùng tráng. Bức tranh không chỉ làm sống dậy một thời kì hào hùng của dân tộc ở căn cứ địa Việt Bắc đang chuẩn bị cho một chiến công "lừng lẫỵ năm châu chấn động địa cầu" mà còn đem lại cho ta niềm tin yêu quê hương cách mạng anh hùng. Nó xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất của "Việt Bắc".

 

Bài mẫu số 5: Bài văn Phân tích đoạn thơ sau: "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng" đạt điểm cao

Nhà văn Tố Hữu, lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, đã từng chia sẻ: Tôi phải lòng đất nước và nhân dân mình và cũng đá nói nhiều về đất nước và nhân dân mình như người đàn bà mình yêu. Có thể nói, thơ Tố Hữu là bản tình ca về đất nước và con người Việt Nam. Trong số những bản tình ca ấy, ta không thể không nói kể tới "Việt Bắc" - đỉnh cao của Tố Hữu, là tác phẩm xuất sắc trong văn học kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc không chỉ là bản tình ca sâu sắc mặn nồng giữa kẻ ở người đi mà còn là khúc hùng ca về những người anh hùng dân tộc. Bên cạnh những vần thơ trữ tình ngọt ngào, ta còn bắt gặp những vần thơ tràn đầy khí thế chiến thắng của quân và dân ta:

Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui thắng trận trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

Việt Bắc là một tác phẩm gồm 150 câu thơ lục bát, được viết vào thánh 10/1954 khi Trung ương Đảng và chính phủ, Bác Hồ và cán bộ từ giã "Thủ đô gió ngàn" đề về với "Thủ đô nắng Ba Đình" Bài thơ được chia làm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phấn sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn thơ "Những đường Việt Bắc của ta...Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng" tập trung tái hiện lại không khí hào hùng của cuộc kháng chiến lúc quân và dân ta đang dành được lợi thế.

Phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta...đèo De núi Hồng- văn mẫu tuyển chọn

Trong 8 câu thơ đầu, nhà thơ đã tái hiện lại một cách chân thực hình ảnh đêm Việt Bắc trong mùa chiến dịch:

Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Câu thơ Những đường Việt Bắc của ta vang lên khỏe khoắn, hùng tráng, chứa chan niềm tự hào kiêu hãnh. Trăng ngả, trăng đường hướng về Việt Bắc, trăm nẻo đường từ Việt Bắc tỏa đi muôn nơi đều là "của ta": Hai tiếng của ta giản dị mà vô cùng thiêng liêng. Chúng thể hiện rõ ý thức làm chủ của người kháng chiến đất nước mình cũng như niềm tự hào về sự bất khả xâm phạm của vùng căn cứ. Có sống trong những ngày kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ khó khăn, ta mới thấm thía niềm tự hào kiêu hãnh chống Pháp gian khổ khó khăn. Sau bao ngà tháng trong tình thế ngặt nghèo, phải phòng thủ ta đã vươn lên dành thế chủ động trong mọi mặt trận. Những con đường từng bị giặc chiếm đóng nay đã là của ta. Hình ảnh thơ Đêm đêm rầm rập như là đất rung đặc tả sự lớn mạnh nhanh chóng, vượt bậc và khí thế ra trận hào húng, ngất trời của đoàn quân và dân ta. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại chọn thời điểm ban đêm. Trong cuộc sống, đêm là lúc yên bình, tĩnh mịch, vạn vật đã chìm vào giấc ngủ say nông nhưng trong kháng chiến, đêm thường là điểm khởi đầu của những hoạt động, chiến dịch chuẩn bị cho ngày mai thắng lợi. Trong màn đêm bao la bao phủ, trùm khắm, đoàn quân của ta ra trận rầm rập như vũ bão khiến đất rung, trời lờ. Với những từ láy rắn rỏi, hình ảnh so sánh, phóng đại, nhịp thơ đanh, chắc kết hợp với những phụ âm rung, câu thơ bật lên âm hưởng khỏe khoắn hùng tráng góp phần tái hiện sống động cuộc diễu binh hùng vĩ. Có thể nói, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí thế ra trận hào hùng của cha ông trong suốit bồn nghìn năm dựng nước, giữ nước đã sống dậy trong ngày tháng ra trận.

Chúng ta từng tự hào trước các tráng sĩ thời Trần mang tinh thần Sát Thát, về nghĩa quân Lam Sơn với sức mạnh Đánh một trận sạch không kình ngạc - Đánh hai trận tan tác chim muông. Và cho đến bây giờ, chúng ta lại càng tự hào về cuộc kháng chiến thần thánh của thời đại cách mạng:

Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sáo đầu súng, bạn cùng mũ nan

Các từ tượng thanh và các từ tượng hình như rầm rập, điệp điệp, trùng trùng được sử dụng một cách tài tình, diễn rả chính xác khí thế tự tin, hồ hởi bao trùm cả dòng người đang ra trận với sức mạnh như dòng thác tuôn trào, không gì có thể cản bước nổi quân ta. Hình ảnh thơ ánh sao đầu súng đậm chất lãng mạn. Nơi đầu súng của người lính cụ Hồ người sánh ánh sao lí tưởng cách mạng, hòa bình của niềm tin chiến thắng. Hình ảnh ánh sao đầu súng gợi liên tƣởng đến hình ảnh đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu. Chỉ bằng một hình ảnh thơ, Tố Hữu đã tạc khắc chân dung của đoàn quân chủ lực bình dị mà cao cả.

Cùng ra trận với những đoàn quân chủ lực còn có lực lượng dân công hỏa tuyến hùng hậu. Tuy là bức tranh buổi đêm nhưng vẫn rừng rực ánh sáng - ánh sáng của đuốc đỏ, tàn lửa, đèn pha:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm, sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Dân công đỏ đuốc từng đoàn và muôn tàn lửa bay là những hình ảnh huy hoàng, rực rỡ tái hiện không khí ra trận sôi nổi của lực lượng tiến công. Với khát vọng giải phóng đất nước cháy bỏng, những đoàn quân lấy đêm là ngày, từng đoàn, từng đoàn, với bó đuốc rực cháy trên tay hối hả nối nhau ra trận. Với bước trân nát đá, muôn tàn lửa bay ấy, núi rừng như bừng thức. sự im lặng, tăm tối bỗng bị xé toang bởi ánh sáng đèn pha. Hình ảnh Đèn pha bật sáng như ngày mai lên vừa cực tả ánh sáng chói lòa của đoàn xe cơ giới, vừa nên bật sự trưởng thành lớn mạnh của quân đội ta, đồng thời, nó cũng thể hiện niềm tin vào một ngày mai huy hoàng, sáng chói.

Khúc ùng ca Việt Bắc ra trận được khép lại bằng tiếng reo ca khi toàn thắng về ta:

Tin vui thắng trận trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

Diệp từ "vui" được điệp đi, điệp lại nhiều lần cùng với nhịp thơ ngắn, nhanh mạnh tạo nên âm hưởng hào sảng, hùng tráng. Những cụm vui từ, vui về, vui lên tạo nên không khí phấn chấn, vui tươi, hồ hởi. Từ Việt Bắc, tốc độ của chiến thắng bùng lên, chiến thắng nối tiếp chiến thắng, niềm vui gọi niềm vui. Điểm đáng chú ý trong đoạn thơ là việc liệt kê hàng loạt các địa danh mà không làm mất đi sự hấp dẫn của đoạn thơ. Nếu ở Tây Tiếm, những địa danh của Quang Dũng xuất hiện với niềm thương nỗi nhớ thì Tố Hữu lại gọi tên những địa danh lừng lẫy chiến công mà làm bừng tỉnh lòng người. Có thể nói, đây là điểm độc đáo trong thơ Tố Hữu.

Nhìn chung, đoạn thơ Việt Bắc ra trận là minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ đậm tính sử thi và dạt dào cảm hứng lãng mạn của Tố Hữu. Đọc đoạn thơ, ta thấy như một khúc ca thắng trận của quân dân Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp Khẳng định, ngợi ca, tự hào về quê hưong Việt Bắc " Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa".

--------------------------HẾT------------------------

Để học tốt môn Ngữ văn lớp 12, bên cạnh việc trau dồi kĩ năng viết, phân tích, cảm nhận tác phẩm các em cần có những kiến thức vững chắc về tác phẩm ấy. Củng cố kiến thức về tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 12, bên cạnh Việt Bắc, các em có thể tham khảo thêm: Cảm nhận về bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Phân tích tùy bút Người lái đò sông Đà, Phân tích bài thơ Đàn ghi ta của Lorca, Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

"Việt Bắc" của Tố Hữu là một trong những tác phẩm chủ chốt trong chương trình Ngữ văn lớp 12. Bài mẫu Phân tích đoạn thơ sau: Những đường Việt Bắc của ta…Vui lên Việt Bắcc, đèo De, núi Hồng trong bài Việt Bắc do đội ngũ Taimienphi.vn biên soạn sẽ giúp các em hiểu thêm về không khí của quân dân ta trong những năm kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ.

ĐỌC NHIỀU