Soạn bài Viết bài làm văn số 1: Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống

Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ hướng dẫn các em học sinh soạn bài Viết bài làm văn số 1: Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống hoặc tác phẩm văn học để em biết cách làm các đề văn trang 27 SGK Ngữ văn 10, tập 1 với nội dung: Cảm nghĩ về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT, Cảm nghĩ về thời khắc chuyển mùa, Cảm nghĩ về một người thân yêu của mình, Cảm nghĩ về một câu chuyện đã đọc/ đã học gây ấn tượng mạnh với em, Cảm nghĩ về một tác phẩm văn học em yêu thích.

Soạn bài Viết bài làm văn số 1: Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống

1. Nêu cảm nghĩ của anh (chị) về sức hấp dẫn trong truyện ngắn Bố của Xi-mông của Mô-pát-xăng.
Gợi ý làm bài
Câu chuyện xảy ra ở bốn địa điểm: trường học, nhà của Xi-mông, Y, rèn và bãi cỏ bờ sông.
Trong bốn địa điểm này, “bãi cỏ bờ sông” là địa điểm “thiên nhiên”, nơi cậu bé tìm đến với quyết tâm tự kết liễu cuộc đời. Bởi vì không gian “xã hội” - ngôi trường không chấp nhận cậu, xem cậu như một người ở ngoài cộng đồng vì mẹ cậu không có chồng mà sinh ra cậu. Nhưng “bãi cỏ”, “dòng sông” không hề ngược đãi cậu. Trái lại, nơi ấy cưu mang, xoa dịu nỗi thống khổ mà nguyên do không phải từ cậu. Cậu bé vui đùa trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng ấy. Và cũng chính từ môi trường thiên nhiên này, Xi-mông lần đầu tiên gặp được bác thợ rèn Phi-líp, người hứa sẽ tìm bố cho Xi-mông. Lời hứa này, lúc ấy chỉ nhằm xoa dịu niềm đau khổ của cậu bé, nhằm để có thể đưa cậu về nhà. Nhưng trong khung cảnh yên bình ấy, lời hứa dường như để ngỏ một khả năng.
Như thế, Mô-pát-xăng đã xây dựng hai không gian đối lập. Không gian xã hội với những định kiến nặng nề. Người ta không cần biết nguyên nhân, chỉ nhìn sự vật, hiện tượng mà phán xét. Còn không gian “thiên nhiên” thì xoa dịu con người, hướng con người về lại với những suy nghĩ đúng trách nhiệm của một con người: cậu bé đang muốn tự tử thì con ếch xuất hiện, bác Phi-líp xuất hiện, ý nghĩ dại dột của Xi-mông không còn tồn tại.
Nhà văn ca ngợi người lao động qua không gian lò rèn, nơi bác Phi-líp làm việc cùng các bạn. Họ là những người lao động chân chính, miệt mài làm việc, không có nhiều thời gian để đàm tiếu, để đầu độc suy nghĩ của bạn trẻ như đám phụ nữ vô công rồi nghề kia. Việc bác Phi-líp đến nhà Xi-mông ngỏ lời cầu hôn với cô Blăng-sốt cũng được các bạn bác tán thành. Những người thợ rèn không nói nhiều. Những lời nói của họ thực sự có trọng lượng, thể hiện lòng độ lượng, tin yêu con người. Họ chính là nhân tố quan trọng tạo nên sự quyết tâm trong lòng Phi-líp.
Không gian ngôi nhà Xi-mông vừa là không gian thảm họa vừa là không gian của hạnh phúc. Thảm họa vì sau khi Xi-mông chào đời, mẹ cậu trở thành đối tượng đàm tiếu của mọi người. Mọi người xa lánh hai me con cậu, và mẹ
cậu vì tự trọng cũng không muốn tiếp xúc với mọi người. Blăng-sốt âm thi chịu đựng đau khổ một mình âm thầm nuôi Xi-mông trưởng thành.
Nhưng đấy cũng lại là không gian hạnh phúc vì Phi-líp xuất hiện và không lâu sau, vượt qua những trở ngại về tập tục cuối cùng, Phi-líp thực sự trở thành bộ của Xi-mông. Việc khuôn bối cảnh truyền vào một số không gian nhất định cho thấy dụng ý nghệ thuật của Mô-pát-xăng. Ông phê phán xã hội vì những định kiến ác độc. Mối nguy hại từ những suy nghĩ ác độc đó sẽ tác hại tới thế hệ trẻ con. Muôn đời, bao giờ con trẻ cũng là phiên bản trực tiếp từ bố mẹ. Nên tác hại của lối suy nghĩ, lối sống không độ lượng là nguy hiểm vô cùng. Bên cạnh đó, Mô-pát-xăng còn gián tiếp phê phán trường học. Nhà trường không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức mà còn dạy dỗ học trò biết yêu thương, tôn trọng nhau... thế mà nay, bọn trẻ tha hồ kết bè kết lũ, trêu trọc không hề thương xót Xi-mông, suýt nữa thì chính bọn chúng gây nên hậu quả khôn lường. Chi tiết ngày đầu tiên đến trường (bao hàm nghĩa lần đầu tiên cậu bé tiếp xúc với cộng đồng) của Xi-mông khẳng định điều này. Xã hội, thông qua bọn trẻ, không chịu chấp nhận Xi-mông. May mà bác Phi-líp xuất hiện kịp thời.
Thông thường, với những truyện viết về trẻ con nhà văn thường sử dụng điểm nhìn và giọng điệu trần thuật của trẻ con. Bố của Xi-mông cũng tuân thủ nguyên tắc này.
Người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba, bao quát hết thảy diễn biến truyện. Nhưng tài năng của Mô-pát-xăng được thể hiện ở chỗ ông luôn thay đổi điểm nhìn để tạo sự phong phú cho lối kể và giọng điệu kể.
Có lúc người kể giữ khoảng cách với nhân vật sự kiện: “Chuông báo trưa vừa dứt. Cửa trường mở, và bọn trẻ con chen lấn nhau vào ra cho nhanh”. Đây là lời kể thông thường. Lời kể này báo hiệu thời gian (buổi trưa), địa điểm (trường học), đối tượng miêu tả (trẻ con), động thái (hiếu động).
 Sau hai câu mở đầu mang tính thông báo, người kể tạo tình huống cho truyện bằng cách sử dụng liên từ báo hiệu trạng thái ngược với lôgíc thông thường: “nhưng” bọn trẻ không về nhà mà “tụ tập, thì thào to nhỏ”. Chỉ ngay mấy câu trong đoạn mở đầu, người kể đã đưa ta vào xung đột truyện: thằng Ximông, con chị Blăng-sốt sáng nay đến trường.
Chuyện đến trường là rất thường tình với trẻ con. Điều đó chỉ bất thường khi đứa bé ấy bị bệnh tật, ốm đau. Nhưng đằng này Xi-mông chẳng dị tật gì. Vậy tại sao bọn trẻ lại xì xào về nó?
Người kể liên tục đặt ra nhiều câu hỏi giả định. Người đọc lần theo chuỗi hoài nghi ấy và được dẫn dắt tự nhiên vào trung tâm truyện: Xi-mông không có bố.
 
Một điều nghịch lí nữa tiếp tục được đưa ra: ai mà chẳng có bố (như lời bác thợ rèn Phi-líp đùa với Xi-mông). Quả thật Xi-mông có bố nhưng người đáng lẽ ra là cha nó lại là gã Sở Khanh đốn mạt, lừa gạt mẹ nó rồi bỏ đi. Đây nguyên nhân để mẹ của những đứa học trò có bố kia đàm tiếu. Thái độ đó đã tác động đến chúng: “ở nhà, chúng đều đã từng nghe nói đến chị Blăng-sốt; và mặc dù ngoài chốn công chúng, người ta vẫn niềm nở với chị nhưng riêng giữa các bà mẹ với nhau thì cách các bà đối với chị có cái vẻ ái ngại hơi khinh miệt, điều này lan sang cả những đứa trẻ tuy chúng chẳng hiểu vì sao”.
|Như thế, không phải tất cả mọi người đều “khinh miệt” Blăng-sốt và chuyện không có bố của Xi-mông thì chẳng phải đứa trẻ nào cũng biết. Nhưng chính thói tò mò trẻ con đã kích động lòng hiếu kì và cả thói độc ác rất trẻ thơ của bọn trẻ. “Một thằng khoảng mười bốn, mười lăm tuổi” đầu trò cho chuyện trêu chọc ác độc này. Lối nói của nó rất thâm độc: “Chúng mày biết chứ… thằng Xi-mông... này, nó không có bố đầu nhé”.
Thế là đã rõ, bọn trẻ hai lần bị đầu độc (bởi các bà mẹ cay nghiệt và bởi thằng bé lớn tuổi hơn) nên đã vô tình dấn sâu thêm vào con đường tội lỗi. Chúng kết bè trêu chọc, tẩy chay Xi-mông. Tác giả chú trọng miêu tả những chi tiết, sự kiện đối lập. Giữa đám bạn ngổ ngáo đó, Xi-mông hiện lên đầy thương cảm: “Nó độ bảy, tám tuổi. Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ, và nhút nhát, gần như vụng dại”.
Xi-mông trở thành nạn nhân của bọn trẻ và điều dễ hiểu là nó khó hòng chống nổi chúng. Cho dù vẻ mặt Xi-mông “xanh xao”, cử chỉ Xi-mông “nhút nhát” đầy vẻ đáng thương nhưng bọn trẻ vẫn không buông tha nó. Người kế đưa ta đến cận cảnh bằng cách miêu tả trực tiếp lời đối thoại của chúng:
“ - Mày tên gì?
Nó trả lời: -Xi-mông.
-Xi-mông gì? – thằng kia hỏi tiếp.
Chú bé nhắc lại, hết sức bối rối: -Xi-mông.
Thằng kia hét lên với chú: - Người ta tên là Xi-mông gì kia... Xi-mông… thế cóc phải là tên”.
Lập luận của bọn trẻ rất có lí. Cái tên đúng nghĩa thì cần phải có họ. Mà họ thì phải theo họ bố. Xi-mông không có họ có nghĩa là nó không có tên, không có bố, không thể là con người bình thường, đầy hãnh diện và ác độc như bọn kia. Cái họ đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức ra tình cảnh của một con người: “Tất cả lặng ngắt. Những đứa trẻ kinh ngạc vì cái điều kì dị, quái đản, không thể có được ấy - một thằng bé không có bố - chúng nhìn em như nhìn một hiện tượng kì quái, một sinh vật ngoài lề của tạo hóa, và chúng cảm thấy lớn lên trong chúng niềm khinh bỉ - cho đến bây giờ chưa giải thích nổi – của mẹ chúng với chị Blăng-sốt”.
Chủ đề chính được đặt ra trong truyện là đạo đức của con người. Ở đây Mô-pát-xăng đề xuất quan điểm sâu sắc về đạo đức. Đâu phải vì không có bộ mà Xi-mông là đứa bé hư hỏng, không được cộng đồng chấp nhận. Đâu phải vì không có chồng mà có con mà Blăng-sốt là hiện thân của sự đàng điếm, vô sỉ. Còn cánh phụ nữ vô công rồi nghề kia cứ mang cảnh ngộ Blăng-sốt ra làm chủ để cho nhiều cuộc chuyện phiếm thì có thật sự là đạo đức không? Mô-pát-xăng qua việc xây dựng những hình tượng tương phản đã giúp người đọc hiểu ra rằng có nhiều cảnh ngộ trớ trêu con người ta buộc phải theo mà hoàn toàn không thể tránh nổi.
Rõ ràng, Blăng-Sốt là một phụ nữ đứng đắn. Bằng chứng là sau lần bị lừa phỉnh ấy, chị sống nghiêm túc, dốc lòng nuôi dạy con và giam hãm mình trong sự ân hận, cả thù hận sự nhẹ dạ của mình lẫn người đàn ông bạc ác ấy. Cửa nhà chị không hề mở đối với bất kì người đàn ông nào. Ngay cả Phi-líp tốt bụng, hàng tháng trời đến chơi với Xi-mông vẫn không dám trêu đùa Blăng-sốt. Hình ảnh Blăng-sốt trong lần gặp gỡ đầu tiên luôn đánh thức sự tôn trọng, cảm thông trong lòng Phi-líp: “Thiếu phụ xuất hiện, và người thợ bỗng tắt nụ cười, vì bác hiểu ra ngay là không bỡn cợt được nữa với cô gái cao lớn, xanh xao, đứng nghiêm nghị trước cửa nhà mình, như muốn cấm đàn ông bước lên thềm ngôi nhà”.
Nhưng người con gái có tiếng đồn xinh đẹp một thời khiến Phi-líp chợt nảy ý bông đùa khi đưa Xi-mông từ bờ sông về nhà ấy khi biết được nguyên nhân bọn trẻ hành hạ con mình thì chị “tê tái đến tận xương tủy, chị ôm con hôn lấy hôn để, trong khi nước mắt lã chã tuôn rơi”. Quả thật, Blăng-sốt là người phụ nữ đáng thương. Chị chăm chỉ làm lụng nuôi con, cố chịu đựng nỗi đau của mình để Xi-mông lớn lên được hạnh phúc. Nhưng trớ trêu thay, vì cảnh ngộ của chị mà Xi-mông bị bạn bè khinh miệt. Nỗi đau càng lớn hơn trong chị.
Những tưởng cuộc đời hai mẹ con Blăng-sốt chìm trong khổ đau, hiu quạnh. Quả thực, cuộc sống ấy sẽ là như thế nếu bác thợ rèn Phi-líp không xuất hiện. Bác là người mới đến vùng này, làm thuê cho lò rèn của cụ Loa-dông. Rất tình cờ, Phi-líp gặp Xi-mông bên bờ sông khi cậu bé đang thổn thức một mình. Bác quyết định đưa cậu bé về nhà với hi vọng người mẹ đã một lần “lầm lỡ rất có thể lỡ lầm lần nữa”. Nhưng rồi thay vì thái độ bông lơn, Phi-líp tỏ ra bối rối trước sự đứng đắn của Blăng-sốt. Quan hệ của họ xích gần hơn khi “thiếu phụ tê tái đến tận xương tủy” vì nghe con nói rõ nguyên nhân mình bị hành hạ, thì Xi-mông đưa ra một giải pháp có lợi cho chú theo cách rất trẻ thơ bằng cách hỏi Phi-líp: “Chú có muốn làm bố cháu không?”
Trong tình huống ấy, câu nói ấy như thế đang dò xét hay nói hộ suy nghĩ của hai người lớn kia. Dường như giữa họ đã nảy nở cùng câu hỏi về điều gì đó trọng đại sắp sửa xảy ra. “Im bắt như tờ. Chị Blăng-sốt, lặng ngắt và quằn quại vì hổ thẹn, dựa người vào tường, hai tay ôm ngực”. Người ta thường chỉ thấy xấu hổ khi bị bắt quả tang đang hành động hay suy nghĩ về điều gì đó rất tế nhị. Mô-pát-xăng quả là tài năng khi miêu tả ngoại diện, tâm trạng nhân vật người lớn thông qua lối nói chuyện hồn nhiên của trẻ con. Nghệ thuật xây dựng đối thoại ở đây rất độc đáo. Trẻ con đối thoại với người lớn song ẩn sau là đối thoại giữa người lớn với người lớn và xa hơn nữa là giữa tác phẩm với độc giả. Đọc đến đây, độc giả sẽ nảy ngay ra câu hỏi: liệu quan hệ của họ có đến đâu? Xi-mông có bố hay không? Những câu hỏi này phần nào đã được họ mở qua thái độ của Phi-líp:
“- Nếu chú không muốn, cháu quay trở lại sống cho chết đuối.
Bác thợ coi như chuyện đùa, và cười đáp: - Có chứ, chú muốn vậy...
- Thế nhé! Chú Phi-líp, chú là bố cháu đấy.
Bác thợ nhấc bổng em lên, đột ngột hôn và hai má em, rồi sải từng bước dài, rút lui rất nhanh.”
Trong tác phẩm, Xi-mông là nhân vật chính song Blăng-sốt và Phi-líp cũng quan trong không kém. Xây dựng hình tượng Blăng-sốt khổ đau, Mô-pát-xăng đứng về phía những người phụ nữ bị vùi dập dưới những định kiến bảo thủ, lạc hậu, xấu xa của xã hội để nói lên tiếng nói cảm thông chia xẻ của một tâm hồn nhân đạo cao cả.
Với Phi-líp, tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm song vị trí và vai trò của bác thợ rèn ấy thực sự quan trọng. Đến mức ta có thể xem là quan trong ngang bằng Xi-mông. Nếu chú ý kĩ đến nhan đề ta thấy rõ dụng ý kép về mặt tư tưởng - chủ đề của tác phẩm: nếu đây là câu chuyện về người bố của Xi-mông, có nghĩa vai trò chính trong truyện là Phi-líp; còn nếu đây là câu chuyện chú bé Xi-mông đau khổ muốn có một ông bố, thì vai trò chính trong truyện là Xi-mông .
Nhưng nếu so sánh nhan đề với đoạn kết của truyện, sau khi Phi-líp chính thức trở thành bố của Xi-mông (“Lần này, chẳng người nào cười nữa, vì cái nhà bác Phi-líp Rê-my, thợ rèn, thì biết rõ lắm rồi, và đấy thật là một ông bố, mà ai có được cũng phải lấy làm tự hào”) thì chúng ta thấy tác phẩm cũng đặt trong tâm vào Phi-líp. Mô-pát-xăng không thực sự hướng độc giả đến nỗi khổ cực của me con Blăng-sốt mà vấn đề quan trọng theo ông là đưa ra một cảnh ngộ và tìm cách giải tỏa, giúp họ vượt qua nỗi thống khổ đó. Phi-líp là nhân vật thực hiện chức năng này. Vì thế câu chuyện Phi-líp dũng cảm, vượt qua mọi định kiến sai lạc đương thời để trở thành bố của Xi-mông sẽ luôn tỏa sáng trong lòng người đọc, giúp họ nhận ra rằng, chỉ có thương yêu nhau thì mọi người mới hết khổ ải. Nếu chỉ sống bằng thù hằn bạc ác thì sự đau khổ sẽ luôn bám riết lấy họ. Do vậy, tình yêu thương có được chỉ bằng tấm lòng vị tha, nhân hậu. Phi-líp trở thành mẫu đàn ông lí tưởng không chỉ riêng dưới cái nhìn của Mô-pát-xăng mà còn của bao người.
Những nỗi khổ của Xi-mông thì luôn cố dai dẳng và nhiều đột biến. Vẫn sử dụng cái nhìn trẻ thơ, Mô-pát-xăng kể tiếp nỗi buồn vui của Xi-mông. Kể từ khi được Phi-líp nhận làm bố hờ, Xi-mông can đảm hẳn lên trước bọn trẻ. Cậu bé nói với những đứa bạn ác ý “như ném một hòn đá: - Bố tao ấy, bố tạo tên là Phi-líp.” Nhờ cái tên Phi-líp, Xi-mông mới tự tin để tiếp tục đến trường. Tình cảm giữa cậu bé và Phi-líp ngày một sâu đậm hơn. Nhưng rồi sóng gió lại nố ra. Có đứa phát hiện ra quan hệ không thật của bố con Xi-mông:
“– Mày nói dối, mày chẳng có bố tên là Phi-líp.
 – Sao lại thế? – Xi-mông xúc động hỏi...
– Bởi vì nếu mày có bố, thì ông ấy phải là chồng của mẹ mày.”
Chân lí thật đơn giản. Không có chồng mà có con là xấu xa, không có bố mà ra đời là xấu xa. Không phải là “chồng của mẹ” thì không thể là bố của con. Xi-mông bị đẩy vào tình thế chẳng biết đối đáp ra sao.
Bác Phi-líp phải trả lời cho nó. Và đây là đỉnh cao của xung đột truyện. Quá trình xung đột của cốt truyện được dẫn dắt từ không có bố đến có bố rồi lại không có bố. Xi-mông hoang mang. Đầu óc non nớt và hồn nhiên của cậu không thể nào cắt nghĩa. Ngay đến cả suy nghĩ trưởng thành của người lớn cũng đâu dễ đưa ngay ra được quyết định. Xem thế để thấy con người đâu dễ vượt qua những định kiến khắt khe của xã hội. Lúc này, thế chủ động hoặc diễn biến hạnh phúc hay bất hạnh của hai mẹ con Xi-mông đều phụ thuộc vào Phi-líp. Mà Phi-líp thì ít nhiều vẫn còn do dự. Chỉ khi những người lao động trong lò rèn lên tiếng ủng hộ: “Dù thế nào, Blăng-sốt vẫn là một cô gái tốt bụng, trung hậu, và mặc dầu gặp chuyện không hay, vẫn can đảm và nề nếp, cô ấy sẽ là một người vợ xứng đáng, với một người đàn ông tử tế”.
Chỉ qua đối thoại của cánh thợ rèn chúng ta mới biết rõ nguyên nhân gây nên nỗi bất hạnh cho Blăng-sốt. Từ đầu đến cuối tác phẩm, tác giả giấu kín nguyên nhân mà chỉ kể về hiện trạng bất hạnh của Blăng-sốt. Ngay đến cả Blăng-sốt, tác giả không hề để chị hé răng thanh minh cảnh ngộ của mình. Cách trần thuật này khơi gợi sự tò mò háo hức muốn biết cội nguồn nỗi khổ của Blăng-sốt.
 Cũng nhờ giấu kín nguyên nhân nên tác giả mới khắc họa rõ nét các cái nhìn đối ngược nhau về chị Blăng-sốt. Đầu truyện là cái nhìn của các bà mẹ xấu tính, những bà “giờ đây rất được trọng vọng”, cũng đã từng làm như chị Blăng-sốt nhưng may mắn hơn là sau đó hôn lễ được tiến hành. Noi theo các bà mẹ, lũ con của những ông bố “hung ác, rượu chè, trộm cắp và nghiệt ngã với vợ” hùa nhau lại hành hạ Xi-mông, dè bỉu Blăng-sốt. Trái lại, những người lao động lam lũ kia lại đưa ra những nhận xét xác đáng, đầy tình thương yêu con người. Họ nói ít những lời lẽ đúng đắn, chân tình: Blăng-sốt sẽ là “người vợ xứng đáng, với một người đàn ông tử tế”
Thì ra đây là triết lí độc đáo của Mô-pát-xăng sống, trong thế giới của cái xấu thì con người ta khó có thể tốt được, chỉ có tốn, với nguời tử tế thì phẩm hạnh của con người mới được tỏa sáng
Cuối cùng, Xi-mông đã tìm được cho mình một người bố tử tế, một thời chống thực sự cho mẹ mình. Blăng-sốt từ một phụ nữ bất hạnh đã rạng ngời hạnh phúc. Tất cả điều đó chỉ có thể xảy ra khi con người lao động, lam lũ, nhưng giàu lòng nhân ái kia dang rộng vòng tay, đập tan nội điệu nghi kị thấp kém bằng lời cầu hôn chất phác, đượm tình người: “Thì có sao đâu, nếu em ưng làm vợ tôi!”

Tấm cám là bài học nổi bật trong Tuần 7 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 10, học sinh cần Soạn bài Tấm Cám, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

2. Cảm nhận của anh (chị) khi đọc bài thơ Mây và sóng của Ta-go
Gợi ý làm bài
Ra-bin-đra-nát Ta-go một tâm hồn lớn của Ấn Độ, người mở đầu cho vinh quang châu á hiện đại bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh tế, ngập tràn triết lí suy tư. Đọc thơ Ta-go ta luôn bắt gặp niềm cảm thông sâu lắng, chất trí tuệ uyên bác ẩn sau nụ cười mỉm, độ lượng thoáng qua. Ngỡ chừng như gặp tầm hồn của một thánh nhân, người am hiểu mọi nhẽ nhưng không hề đại ngôn, nhiều lời. Cuộc Sống vốn bình dị, hạnh phúc vốn bình dị ấy là lẽ đời vĩnh viễn không thể đổi thay.
Trưởng thành trong cái nôi của một trong những nền văn hóa vĩ đại của nhân loại, Ta-go mang trong mình dòng máu của đẳng cấp quý tộc cao nhất và lâu đời của Ấn Độ. Lẽ dĩ nhiên, sự thông tuệ của ông cũng bắt nguồn từ đó. Hơn nữa, do sớm tiếp xúc với bầu không khí văn minh phương Tây, Ta-go là cái gạch nối vĩ đại của hai nền văn hóa. Ông khiến người phương Tây am hiểu và khâm phục hơn truyền thống văn hóa nặng về tinh thần của người phương Đông. Và cũng thế, ông giúp người phương Đông hiểu rằng ngay cả lời nói bình thường trong cuộc đời cũng có thể trở thành thơ. Chỉ có điều người viết phải sắp xếp sau đó cho chúng có vần điệu. Mây và sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo này của Ta-go.
Toàn bộ bài thơ là lời em bé tâm sự với mẹ, đúng hơn là lời kể lại các sự kiện những người trên mây, trên sóng rủ em bé đi chơi, nhưng em không đi với họ dầu rất thích chơi đùa. Em muốn ở nhà với mẹ và chơi đùa cùng me. Người mẹ trong bài thơ không được miêu tả, không hề nói một lời nào nhưng qua lời của em bé và tình cảm em dành cho mẹ, người mẹ ấy hiện lên đầy hiền hậu, độ lượng, tình cảm của người mẹ thật bao la.
Bài thơ có dạng cấu trúc lặp mô hình thử thách của truyện cổ tích.
Trừ câu cuối mang tính khái quát cho toàn bộ bài thơ, bài thơ bao gồm hai phần. Phần một viết về lời rủ rê từ trên mây và cách ứng xử của em bé. Phân hai viết về những lời rủ rê của sóng và cách ứng xử của em bé. Cấu trúc hai phần là đồng dạng, có thể thấy rõ qua bảng so sánh sau:
soan bai viet bai lam van so 1 cam nghi ve mot hien tuong doi song
Việc lặp cấu trúc này cho thấy những thử thách mà em bé bị quyến rũ. Tuổi thơ thì luôn ham thích vui chơi. Đặc biệt là những trò chơi hấp dẫn đến từ miền xa lạ. Ấy thế mà mỗi lần có sự rủ rê em bé đều từ chối. Rõ ràng không phải em bé không muốn đi chơi. Chỉ có điều em bé luôn được đặt trong sự lựa chọn hoặc là ở lại với mẹ hoặc là đi theo những người lạ, những người mang lại cho em những trò chơi thú vị vô cùng. Việc quyết định ở lại với mẹ của em bé cho thấy bản lĩnh và nghị lực của em. Điều đó cho thấy mọi cám dỗ của cuộc đời không thể nào thắng nổi tình mẫu tử thiêng liêng. Em bé là một người con có hiếu.
Bài thơ được viết theo lối văn vần. Chủ thể em bé kể về những lời mời mọc rủ rê em đi chơi của mây và sóng và sự chối từ của em. Chính cách chọn lối kể bằng văn vần này đã khiến cho ngôn ngữ thơ phong phú, tràn nhiều cảm xúc.
Đối thoại vốn là thế mạnh của văn tự sự. Trong các tiểu thuyết và truyện ngắn, đối thoại là bộ phận ngôn từ không thể thiếu. Ở nhiều nhà văn lớn, có khi họ kể về câu chuyện của mình thông qua các đối thoại (truyện ngắn Răng đối tựa đàn voi trắng của Hê-minh-uê tiêu biểu cho phong cách này), nhưng ở thơ, việc đưa đối thoại vào là rất khó bởi lẽ thơ thiên về tính nhịp điệu còn đối thoại thì rất khó tạo được tính nhịp điệu. Như thế, Ta-go đã rất thành công khi biến cái rất khó thành cái có thể.
Bài thơ có ba lớp đối thoại:
-Đối thoại rộng nhất là đối thoại của văn bản thơ với độc giả. Người đọc, khi tiếp xúc với bài thơ sẽ gặp một em bé yêu thương mẹ và sẽ gặp được tình cảm mẹ con bao la vô bờ bến.
- Đối thoại trực tiếp hẹp hơn là đối thoại giữa em bé với mẹ. Tín hiệu để nhận biết điều này là câu gọi đầu tiên của bài thơ: “Mẹ ơi, trên mây có người gọi con”. Mặc dù sau đó lại của người mẹ không hề xuất hiện nhưng người đọc sẽ luôn thấy người mẹ hiện diện để lắng nghe con nói.
- Đối thoại trực tiếp ở cấp thấp hơn nữa là đối thoại giữa em bé và những người trên mây và những người trong sóng. Dựa vào tín hiệu dấu ngoặc kép, chúng tôi thống kê được tám lời đối thoại có trong bài thơ. Điểm đặc biệt là các lời đối thoại này được phân bố đồng đều giữa hai đoạn (với mây và sóng). Mỗi đoạn đều có bốn câu. Đây là hiện tượng rất đặc biệt trong thơ. Bởi lẽ suốt mảng thơ được tuyển dạy trong chương trình trung học cơ sở thì chưa có bài thơ nào đạt đến tỉ lệ đối thoại cao như ở bài thơ này.
a. Đối thoại với những người trên mây
Đối thoại mang lại sự sinh động và cụ thể cho bài thơ. Thông qua đối thoại, tác giả khai thác trực tiếp cảm xúc, tâm lí của người tham gia hội thoại. Nhằm đánh vào điểm yếu của trẻ em là ham thích vui chơi, những người trên mây buông lời dụ dỗ đầy hấp dẫn, hàm ý: hãy đi cùng chúng tôi bạn sẽ được vui chơi thỏa thích, “Bọn tớ chơi từ khi thức dậy đến lúc chiều tà”. Đây là khoảng thời gian ban ngày. Khoảng thời gian mênh mông cho mọi trà vui thích.
Đi kèm với khoảng thời gian ban ngày đó là cả thời gian ban đêm “bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”. Câu thơ này độc đáo ở chỗ bên cạnh việc biểu thị thời gian, các tín hiệu đưa ra cũng nhằm biểu thị không gian. Nếu ở câu đầu của lời thoại từ “thức dậy” đến “chiều tà” chỉ nhằm diễn tả thời gian, thì ở câu thứ hai của lời thoại này ta thấy có sự đan cài cả không gian trong thời gian “bình minh” (tương ứng với thức dậy) đến “vầng trăng bạc” tín hiệu chỉ đêm, vượt qua thời gian “chiều tà”. Nhưng từ bình minh cho tới hoàng hôn ấy gợi cho người đọc một không gian rộng mở khôn cùng tương ứng với thời gian bất tận “chiều tà”, “trăng bạc” rồi “bình minh”. Cuộc chơi của những người trên mây quả là thú vị vô cùng. Cuộc chơi không giới hạn trong không gian, thời gian ấy rõ ràng đã thực sự thu hút sự chú ý của em bé.
“Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”
Chữ “nhưng” ở đầu câu cho thấy trong suy nghĩ của em bé có sự băn khoăn do dự. Nguyên nhân của sự do dự chưa phải là vì em không mà xa mẹ mà là vì em không biết cách nào để lên trên đấy. Rõ ràng em bé đã rất muốn đi, muốn phiêu lưu theo những đám mây đến tận cùng trời đất. Tuy nhiên, ta vẫn có thể hiểu nguyên nhân thực sự để tạo nên sự do dự ấy là vì em không muốn xa mẹ và câu hỏi em đặt ra là để từ chối lời mời một cách tế nhị.
Thế nhưng, dụng ý của em bé không được những người trên mây thấu hiểu. Bởi lẽ họ bày cho em cách để đến với họ: “Hãy đến nơi tận cùng trái đất, đưa tay lên trời, cậu sẽ được nhấc bổng lên tận tầng mây?” ở đây đã có sự quan sát thấu đáo. Thông thường những đám mây trên trời luôn trải dài đến tận chân trời. “Chân trời” đó là nơi những đám mây tiếp giáp với mặt đất. Nhờ thế em bé có thể với đến và được những người bạn trên mây kéo lên.
Mặt khác câu thơ cũng cho thấy sự tưởng tượng bay bổng siêu phàm của Ta-go. Khát vọng được phiêu du cùng mây và sóng là khát vọng được hòa nhập vào thiên nhiên vào vũ trụ. Đây là một triết lí quan trọng trong tư tưởng Á Đông. Người phương Đông xem con người là một tiểu vũ trụ, là một bộ phận không thể tách rời với vũ trụ và cách sống tích cực nhất là hòa cái tiểu ngã của con người vào cái đại ngã của thiên nhiên trời đất. Trên cơ sở của cái nhìn này, Ta-go đã hướng nhân vật của mình vào cuộc chơi mang tầm trời đất ấy. Thế những điểm đáng lưu ý ở đây là nhân vật của Ta-go là một em bé. Tứ thơ vì thế đã bao hàm hai lớp nghĩa: chỉ là trí tưởng tượng hồn nhiên của trẻ thơ nhưng đồng thời cũng là khát vọng sống vĩnh hằng của bất kì người lớn nào. Ta-go vĩ đại là ở đó. Thơ ông dẫu chỉ là chuyện đối thoại hồn nhiên của một em bé với thế giới tưởng tượng của em nhưng nó vẫn chuyển tải được nhiều thông điệp sâu xa về lẽ sống.
Sau khi nghe thấy cách để được lên mây, em bé bèn đưa ra lí do khác. Lí do này mới thực là điều đã ngăn cản em:
– Mẹ mình đang đợi ở nhà, – con bảo, -Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?” . Như thế, qua câu thơ ta thấy cuộc đối thoại giữa em bé và những người trên mây diễn ra khi em bé không ở bên cạnh mẹ. Lúc này em bé được đặt giữa hai sự lựa chọn, đi chơi cùng những người trên mây hay quay về nhà với mẹ. Ta-go rất tài tình khi miêu tả tâm lí trẻ thơ. Em bé trong bài thơ tuy rất yêu mẹ nhưng thực lòng em cũng rất muốn đi chơi. Trẻ thơ nào mà chẳng ham chơi nên câu hỏi “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?” đã diễn tả thành công trạng thái tâm lí đó.
Điều kì diệu của các đối thoại này là ở chỗ, thông qua việc rủ rê đi chơi, tác giả đã để nhân vật của mình đối thoại cùng với những hiện tượng tự nhiên vĩnh hằng. Trong bài thơ Ta-go không hề nhân cách hóa mây mà ông chỉ huyền ảo hóa mây bằng cách gửi những con người vô hình trong đó. Như thế em bé không đi chơi cùng mây mà chỉ đi cùng những người vô hình trong mây ấy. Đối thoại của em bé cũng là đối thoại với những người vô hình kia.
 
Nếu em bé là con người hiếu thảo thì những người trên mây là những người thông thái. Họ rất hiểu em bé và tình cảm của em. Khi em băn khoăn không biết cách nào để đi thì những người trên mây chỉ lối cho em, còn khi em bé đưa lí do mẹ “đang đợi ở nhà” thì cách trả lời của họ là “mìm cười bay đi”.
Thái độ đó cho thấy sự thấu hiểu sâu sắc tâm trạng của em bé. Những người trên mây đầy độ lượng qua nụ cười mỉm đã hoàn toàn biết rằng một khi em bé băn khoăn về viây e đang đợi mình thì họ biết rằng em bé sẽ không an khoăn về việc mẹ đang đợi mình thì họ biết rằng em bé sẽ không đi cùng họ. Đây là qui luật vĩnh hằng đối với những đứa con ngoan.
b. Đối thoại với những người trong sóng
 Đối thoại giữa em bé với những người trong sóng tuy lặp về cấu trúc, những chi tiết thì đã có phần đổi khác. Vẫn là lời gọi mới đầy quyến rũ:
“Trong sóng có người gọi con:
- Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không từng biết đến nơi nao.”
Có sự lặp lại về tín hiệu thời gian vô tận “từ sáng sớm cho đến hoàng hôn, về không gian vô tận “bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ”, nhưng đã có hai điểm khác biệt giữa cuộc chơi của những người trên mây và những người trong sóng.
- Điểm khác biệt lớn nhất là những người trong sóng đã cụ thể hóa việc chơi đùa của họ bằng động thái hát ca: “bọn tớ hát ca”.
- Điểm khác thứ hai là đã nhấn mạnh đến tính chất vô tư, không bận tâm đến việc mình đi đến đâu và tiêu phí hết bao nhiêu ngày tháng: “ngao du nơi này nơi nọ mà không từng biết đến nơi nao”.
Hành động “vô cầu” là một trong những phạm trù triết học của Á Đông. Dĩ nhiên với em bé, Ta-go chưa trực tiếp khai thác ý nghĩa của hành động này mà trước hết ông dùng nó để diễn tả khát vọng vui chơi thỏa thích, không chút vướng bận của tâm hồn trẻ thơ. Tuy nhiên, qua hai đoạn thơ, nếu chúng ta quan sát kĩ thì sẽ thấy thơ của Ta-go thấm đẫm yếu tố hiện thực và tài quan sát của ông thì tinh tế đến khôn cùng. Với mây, Ta-go nhấn mạnh tố chất đi, dựa vào việc những đám mây lặng lẽ trôi qua bầu trời. Với sóng, Ta-go nhấn mạnh cả yếu tố đi và hát, dựa vào sự di chuyển không ngừng của con sóng và âm thanh phát ra từ chúng.
Như thế âm thanh của bài thơ cũng bao gồm nhiều cung bậc: tiếng người gọi từ trên mây từ trong sóng, tiếng ca hát từ trong sóng, tiếng đối thoại của em bé với những người trên mây, người trong sóng, tiếng cười vang khi con “vỡ tan vào lòng mẹ” và có cả âm thanh không hiện của nụ cười mỉm. Thế giới âm thanh này khiến bài thơ sống động, dạt dào cảm xúc. Trong đó, thanh điệu của do dự, lưỡng lự vang lên bốn lần qua bốn câu hỏi của em bé:
“– Nhưng làm thế nào mà mình lên đó được?
- Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?
- Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?
- Làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”
Khi được những người trên sóng bày cách để đi chơi: “Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, cậu sẽ được làn sóng nâng đi,” thì em bé đã hết do dự. Rõ ràng, như đã phân tích, việc lặp cấu trúc câu qua hai phần mây và sông này đã cho thấy ước muốn được đi chơi của em bé lớn biết nhường nào. Nếu em bé không phải là người con ngoan, đứa con biết yêu mẹ thì chắc chắn sẽ không có sự do dự đó.
Ở em bé này, Ta-go khai thác ba nét tính cách: thích chơi đùa, ngoan ngoãn và có hiếu với mẹ. Nếu ở đoạn đối thoại với mây, Ta-go cho chúng ta thấy em bé là người con hiếu thảo: Em biết mẹ đợi ở nhà nên không muốn đi chơi. Người mẹ không buộc con mình phải ở nhà. Nhưng em bé tự nguyện ở nhà vì em thấu hiểu ước muốn đó ở mẹ. Đến đoạn đối thoại với sóng, Ta-go khai thác nét tính cách ngoan hiền của em bé: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà”. Ở đây đã xuất hiện tín hiệu “mẹ muốn”, có nghĩa em bé không tự nguyện mà buộc phải theo. Nếu em bé là đứa bé hư thì em sẽ chẳng nghe lời mẹ. Mặc dù sức cám dỗ của những người dạo chơi trên sóng biếc là vô biên nhưng em bé luôn nhớ lời “mẹ muốn mình ở nhà”.
Cả những người trên mây lẫn những người trong sóng đều tán thành tấm lòng hiếu thảo và ngoan hiền của em bé. Bằng chứng là khi em bé nêu lí do, họ không hề cố thuyết phục em mà chỉ “mỉm cười” lướt qua. Nụ cười ấy không chỉ là nụ cười của những nhà thông thái (như đã phân tích) mà còn là nụ cười tán thưởng tấm lòng và đạo đức của em bé. Mây và sóng, tượng trưng cho trời cao và biển rộng, cho những thế lực siêu nhiên mạnh mẽ và bao dung, trìu mến ban cho em bé những nụ cười hiền dịu, thông tuệ. Đó cũng chính là nụ cười và ánh mắt tâm hồn của Ta-go.
Những tưởng khi “mây mỉm cười bay đi”, khi “sóng mỉm cười, nhảy múa lướt qua” thì em bé trở nên buồn bã, không còn thích chơi đùa nữa. Thế nhưng, ngay khi để những người vui chơi trên mây và trên sóng ra đi, ngay lập tức em bé đã nghĩ ra trò chơi khác cho mình. Đây là sự sáng tạo tuyệt vời của em bé và ta bắt gặp bên cạnh những phẩm chất đạo đức đáng trân trọng, em bé còn sở hữu một trí tuệ đáng kể. Hai lần em tìm ra trò chơi mới:
– Nhưng con biết có trò chơi thú vị hơn, mẹ ạ.
- Những con biết trò chơi khác hay hơn.”
Cụm từ “những con biết” vang lên đầy vẻ khẳng định. Điều đó chứng tỏ em bé rất tự tin ở chính mình. Toàn bộ bài thơ có bốn từ “nhưng”, hai từ “nhưng” đầu (“Nhưng làm thế nào..”, “Nhưng làm thế nào..”) diễn tả sự do dự thì hai từ “nhưng” sau lại diễn tả sự tương phản theo hướng khẳng định. Hai lần em khẳng định trò chơi này của mình hay hơn: “trò chơi thú vị hơn” và “trò chơi khác hay hơn”.
Đến đây, người đọc hắn hoài nghi liệu điều em bé nói có thật không hay đây chỉ là cách nói cốt chỉ để an ủi mình? Nhưng hoàn toàn không phải như thế. Lời em bé quả rất có lí:
“Nhung con biết có trò chơi thú vị hơn, mẹ ạ.
Con là mây và mẹ sẽ là trăng”
Tí tưởng tượng của em bé thật đáng khâm phục. Không đi theo những người trên mây, em bé muốn mình sẽ hóa thành những làn mây diệu kì ấy.  Nhưng nếu là mây thì em bé rồi cũng sẽ bay đi. Do vậy em ước luôn mẹ mình hóa thành vầng trăng. Sự mong ước này cho thấy tư duy rất trẻ thơ trong nếp nghĩ của em bé. Đồng thời nó cũng cho thấy sự tôn vinh người mẹ của em. Mẹ là vầng trăng bao la ánh sáng của tình mẫu tủ dịu hiền soi chiếu khắp mọi nơi. Mây sẽ không còn cô đơn, lẻ loi trên bầu trời nếu mây được vầng trăng chiều sáng. Tình mẫu tử đã hóa thân vào trời mây trắng nước, những vật thể thiên nhiên tồn tại vĩnh hằng. Ta-go muốn khảm tình cảm thiêng liêng đó vào vũ trụ và khao khát tình mẫu tử sẽ luôn vững bền cùng đất trời, núi sông.
Chỉ mong ước hóa thân thôi chưa đủ, trăng và mây, mẹ và con ấy không hề hững hờ trôi bên nhau mà còn luôn hòa quyện, ôm ấp nhau:
“Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thắm.”
Em bé không hề muốn xa mẹ dẫu trong bất cứ giây phút nào.
Cũng thế, khi những người trong sóng “nhảy mủa lướt qua” thì em bé cũng nghĩ ngay ra một trò chơi khác:
“Con là sóng mẹ sẽ là bến bờ kì lạ
 Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.”
Nếu ở khát vọng làm mây, em bé muốn ôm ấp mẹ thì ở ước muốn làm sóng em bé muốn được tan ra hòa vào bến bờ tình thương của người mẹ. Quả đã có sự đổi khác. Lúc này em bé không muốn mình và mẹ là hai thực thể như mây và trắng mà chỉ là một thực thể: sóng con tan biển vào bờ mẹ.
Tình cảm của em bé đối với mẹ ngày một thiết tha hơn. Qua cả hai đoạn thơ chúng ta luôn thấy hình ảnh mẹ luôn tĩnh và hình ảnh con luôn động. Mây có thể bay và sóng luôn chuyển vào bờ. Những những chuyển động cỏn con ấy chỉ có ý nghĩa và đồng thời chi trở thành trò chơi hấp dẫn mỗi khi có sự tĩnh tại của mẹ. Mẹ là đích đến của đời con và mẹ luôn dang rộng vòng tay chở che cho em bé. Khát vọng của em bé là khát vọng được mãi mãi ở bên mẹ. Mẹ sẽ là bến bờ cho mỗi con sóng của đời con. Nhưng bến bờ đó phải là “bến bờ kì lạ”. Em bé không chấp nhận những bến bờ bình thường, những nơi con sóng đến bờ lạnh lùng để sóng ra đi.
Bài thơ có bố cục thật đặc biệt. Căn cứ vào sự đối xứng của hai đoạn thơ kể lại việc em bé đối thoại với mẹ về những người trên mây và những người trong sóng thì đoạn còn lại của bài thơ chỉ có một câu thơ:
“Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”.
Câu thơ này về mặt hình thức, nó liên kết với câu cuối của đoạn hai (em bé đối thoại với những người trong sóng): “... sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ. Và không ai đến thế gian này...” tuy nhiên nếu mang câu này đặt ở cuối đoạn thứ nhất (em bé đối thoại với những người ở trên mây) thì ý nghĩa cũng như sự liên kết của nó cũng phù hợp hoàn toàn như đặt ở cuối bài. Do vậy, đây là câu kết cho cả hai đoạn hoặc diễn đạt cách khác đây là kết quả muốn hướng đến của hai trò chơi do em bé nghĩ ra. Và bản chất của trò chơi này cũng rất là trẻ con, chơi trốn tìm: “không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”.
Tuy nhiên nếu chỉ hiểu đấy đơn thuần là trò chơi trẻ thơ thì quả thật ta sẽ chưa hiểu hết ý tưởng ngầm chứa sâu xa của Ta-go. Vẫn trên cái nền của sự thách đố tìm kiếm đó, dường như Ta-go còn gửi thêm ý tưởng thế gian có biết tình mẫu tử sâu nặng biết chừng nào hay tình mẫu tử bắt nguồn từ đâu? Trả lời câu hỏi này thật không khó. Dưới “bầu trời xanh thẳm” tình mẫu tử sẽ luôn hiện diện. Trong tiếng “cười vang vỡ tan vào lòng mẹ” tình mẫu tử vẫn luôn hiện diện. Chỉ có điều tình mẫu tử thiêng liêng chỉ luôn thường trực ở những đứa con ngoan, những đứa con biết hiếu thuận, dẫu rất muốn đi chơi nhưng vẫn biết kiềm chế bởi sợ mẹ sẽ buồn khi con không biết nghe lời.
Bài thơ về mây sóng, trắng gió, đất trời mênh mang như tình mẫu tử. Thế gian này bất diệt, trăng nước mây trời bất diệt thì tình mẫu tử sẽ vĩnh hằng. Ta-go đặt em bé trước sự quyến rũ của trời cao (đi chơi cùng mây) của biển rộng (đi chơi cùng cóng). Cái cao sâu và rộng thoáng đó là cái cao sâu của vũ trụ vô thường. Ta-go lấy nó để đo chiều cao và thăm dò đáy sâu của tình mẫu tử để chỉ ra sự không cùng, sự vô giới hạn của kiểu tình cảm thiêng liêng mà nhờ có nó, con người mới có thể tồn tại và tồn tại tốt đẹp hơn cho tương lai vĩnh cửu của sự sống trên thế gian này.
Dư âm của bài thơ là dư âm của tiếng cười vang trong động tác vĩnh hằng “lăn, lăn, lăn... Vỡ tan vào lòng mẹ”. Đấy là khát vọng muôn đời của bất kì những ai đã từng làm em bé trên đời.
3. Cảm xúc của anh (chị) khi lần đầu tiên bước vào ngưỡng của trường trung học phổ thông.
Gợi ý làm bài
Giã từ những năm tháng tuổi thơ để bước vào ngưỡng cửa của một cuộc sống mới, nơi nhiều thử thách đang chờ đợi. Những năm tháng đầy quyến rũ đang đợi chúng tôi phía trước. Sự bỡ ngỡ, đúng, như mọi lần con người đứng trước một thế giới hãy còn lạ lẫm với chính bản thân mình. Nơi ấy có thể là ngọt ngào hay đầy cạm bẫy?
Môi trường mới, học vấn mới, con người rồi sẽ chóng quen với nhiều thứ. có như thế thì cuộc sống sẽ dần ổn định. Những tri thức mới sẽ được tiến nhận. Con người rồi sẽ trưởng thành hơn. Một tương lại mới đang chờ đón. chúng tôi ở phía trước.
Ngoái nhìn lại, cuộc sống ấu thơ với những năm tháng êm đềm nay đâu còn nữa. Ba năm bậc trung học phổ thông sẽ là những năm tháng chúng tôi phải vật lộn với bao gian khó để tích lũy kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việc chọn nghề sau này. Hi vọng với nỗ lực không ngừng, chúng tôi sẽ đạt được thành tích cao trong học tập.

Soạn bài Viết bài làm văn số 1: Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống là một nội dung, bài học hay trong SGK Ngữ Văn 10. Sau phần học này chúng ta tiếp tục chuẩn bị trả lời câu hỏi, Cảm nhận ngày đầu vào trường Trung học phổ thông cùng với phần Soạn bài Chiến thắng Mtao Mxây để học tốt môn Ngữ Văn lớp 10 hơn.

Trong chương trình học Ngữ Văn 10 phần Phân tích bài ca dao sau: “Khăn thương nhớ ai...Lo vì một nỗi không yên một bề...” là một nội dung quan trọng các em cần chú ý chuẩn bị trước.

 

http://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-viet-bai-lam-van-so-1-cam-nghi-ve-mot-hien-tuong-doi-song-38461n.aspx

Tác giả: Đỗ Bá Hưng     (4.0★- 14 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Từ khoá liên quan:

Hướng dẫn soạn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo)

, soạn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo) lớp 10, soạn văn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo) ,

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá