Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du

Thông qua tài liệu soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, các em học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp dễ dàng hơn, đồng thời cùng hình dung ra được bài học nói đến tấm lòng nhân nghĩa của nhân vật cũng như ước mơ công lý của tác giả.

Mục Lục bài viết:
1. Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Ngắn 1
2. Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Ngắn 2

soan bai thuy kieu bao an bao oan trich truyen kieu nguyen du

Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du

Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Ngắn 1


Thúy Kiều báo ân báo oán (trích Truyện Kiều)
Câu 1:
Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh, ta thấy Kiều là người trọng nghĩa. Nàng trân trọng việc Thúc Sinh đã chuộc mình ra khỏi lầu xanh. Việc hai người không vẹn tình vợ chồng là do Hoạn Thư ghen tuông. Bởi thế mà nàng vẫn thấy cần báo ân cho Thúc Sinh với lễ vật rất hậu: gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân. Trong khi báo ân Thúc Sinh, Kiều nhắc đến Hoạn Thư chính vì bao nhiêu oan khổ của nàng đều do Hoạn Thư gây ra. Nàng cũng báo trước cho Thúc Sinh rằng Hoạn Thư là kẻ quỷ quái tinh ma, thị sẽ bị trừng phạt.
Những từ ngữ Kiều dùng với Thúc Sinh là những từ Hán Việt trang trọng: nghĩa, chữ tòng, cố nhân, tạ, … Trong khi đó, khi nói về Hoạn Thư thì lời lẽ nôm na, dùng thành ngữ dân gian: quỷ quái tinh ma, kẻ cắp bà già, kiến bò miệng chén. Đây là hai thái độ, một đằng là với người được báo ân thì trịnh trọng, phù hợp với tính cách của một nho sinh ưa chữ nghĩa. Còn với Hoạn Thư thì lời lẽ nôm na, theo kiểu dân gian. Hành động trừng phạt theo quan điểm nhân dân được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Câu 2:
Giọng điệu của Kiều trong đoạn thơ báo oán thể hiện sự mỉa mai. Hoạn Thư bị đưa đến như là một phạm nhân, thế nhưng Kiều vẫn chào hỏi, lại dùng từ xưng hô cũ “tiểu thư” trong khi ngôi vị của hai người đã hoàn toàn thay đổi. Sau sự mỉa mai, Kiều đã chỉ đích danh con người Hoạn Thư là con người ghê gớm xưa nay hiếm trong cả giới phụ nữ (Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan). Liên tiếp các từ ngữ dùng theo nghệ thuật hoán dụ (tay, mặt, gan) Kiều đã khẳng định Hoạn Thư là con người ghê gớm hiếm có từ xưa đến nay. Càng cay nghiệt, càng gây nhiều oan trái thi tất nhiên sẽ càng phải hứng chịu những trừng phạt sòng phẳng từ phía người bị hại. Thái độ của Kiều là dứt khoát, rõ ràng. Nàng sẽ thẳng tay trừng trị Hoạn Thư.

Câu 3:
Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã vô cùng hoảng hốt và sợ hãi. Sợ đến nước “hồn lạc, phách xiêu”. Nhưng sau phút choáng váng, Hoạn Thư đã lấy lại được bình tĩnh, thể hiện sự khôn ngoan. Đầu tiên là nói về phận đàn bà. Nêu lên phận đàn bà, Hoạn Thư – tội nhân đưa Thúy Kiều – quan tòa về vị trí là người cùng giới, cùng chịu những thiệt thòi. Tiếp theo, Hoạn Thư nêu chuyện ghen tuông là chuyện không thể tránh khỏi. Như vậy tội của Hoạn Thư là tội của cả giới phụ nữ. Nếu kết tội ghen thì phải kết tội cả giới phụ nữ. Sau đó Hoạn Thư mới kể đến ơn của mình với Kiều: chấp nhận cho ra gác Quan Âm để biết kinh, khi Kiều trốn đi thì không đuổi theo nữa. Hoạn Thư còn khéo lấy lòng rằng thị vẫn kính yêu, nhưng vì chung chồng nên khó mà chiều. Cuối cùng, Hoạn Thư đã thừa nhận là mình có tội “gây chuyện chông gai”, và xin mở lượng khoan hồng.
Lí lẽ của Hoạn Thư chặt chẽ, khôn ngoan, đã tác động mạnh đến Thúy Kiều. Từ chỗ quyết tâm trừng phạt, báo thù, Kiều đã tha bổng cho Hoạn Thư.
Qua lí lẽ của Hoạn Thư, ta càng thấy Hoạn Thư là người khôn ngoan, đúng như lời luận tội, nhưng cũng có thể hiểu là lời đánh giá chính xác của Thúy Kiều: Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan.


Câu 4:
Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư vì mấy lí do. Thứ nhất là lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày lí do để cãi tội. Ghen là chuyện thường tình, có công với Kiều, vẫn kính yêu Kiều, nhưng không thể đối xử khác trong tình huống chồng chung. Thứ hai là Hoạn Thư đã thừa nhận tội lỗi của mình. Thứ ba là thị đã xin mở lượng khoan hồng: “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”. Trong tình huống đó, nếu Kiều vẫn không tha cho Hoạn Thư thì nàng sẽ mang tiếng là người nhỏ nhen, là người cố chấp khi kẻ tình địch đã biết nhận lỗi, đã cất lời xin. Kiều là con người rộng lượng, chính vì vậy nàng tha bổng Hoạn Thư. Điều này thể hiện tấm lòng nhân đạo và trí tuệ sáng suốt của Nguyễn Du. Ông đã không để Kiều trừng phạt Hoạn Thư như trong sách của Thanh Tâm Tài Nhân. Và vì thế nàng Kiều của Nguyễn Du nhân hậu và độ lượng hơn.

Câu 5:
Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đền ơn xứng đáng. Thúc Sinh là một ví dụ. Mặc dù chàng Thúc nhu nhược, thấp cơ thua trí đàn bà, đã không bảo vệ được nàng, nhưng nàng vẫn nhớ ơn và đền ơn. Đối với Hoạn Thư, nàng kiên quyết trừng phạt. Nhưng trước thái độ khôn ngoan kêu ca rất “đến mực, phải lời”, Kiều đã tha bổng. Nàng tha Hoạn Thư cho thấy Kiều là người không hẹp hòi, không nhỏ nhen, không cố chấp. Sự rộng lượng của nàng càng làm cho người ta, kể cả Hoạn Thư – kẻ thù, phải tâm phục, khẩu phục.
Trước “tình thế đảo ngược”, Hoạn Thư - người từng hành hạ Thúy Kiều đến ê chề, nhục nhã, người từng “bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”, nay vẫn thừa lọc lõi, “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, bản chất quỷ quyệt giấu trong vẻ “hồn lạc phách xiêu”, khiến Kiều phải xuôi lòng tha bổng.

 

Xem tiếp các bài soạn để học tốt môn Ngữ Văn lớp 9

- Soạn bài Cảnh ngày xuân
- Soạn bài Chị em Thúy Kiều

 

Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Ngắn 2

http://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-thuy-kieu-bao-an-bao-oan-trich-truyen-kieu-nguyen-du-37875n.aspx
Bố cục:
- Phần 1 (mười hai câu thơ đầu): cảnh Thúy Kiều báo ân cho Thúc Sinh.
- Phần 2 (hai mươi hai câu thơ còn lại): Thúy Kiều báo oán Hoạn Thư.
Soạn bài:
Câu 1 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):
- Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng rất trân trọng việc Thúc Sinh chuộc nàng khỏi lầu xanh. Nàng gọi Thúc Sinh là "Người cũ" mang sắc thái thân mật, gần gũi, rồi lại gọi là "cổ nhân" mang sắc thái trang trọng.
- Kiều cũng nhắc về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa.
- Có sự khác nhau trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ điển cố "Sâm Thượng" cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều. Còn lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc "Kẻ cắp bà già gặp nhau", "Kiến bỏ miệng chén" với những từ Việt dễ hiểu: hành động trừng phạt kẻ ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Câu 2 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):
Những lời đầu tiên của Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Bằng giọng điệu đầy vẻ châm biếm, Kiều gọi Hoạn Thư là "tiểu thư", cẩn thận báo cho mụ ta biết về "luật nhân quả" ở đời "càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều"

Câu 3 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):
Hoạn Thư đưa ra những lí lẽ hết sức thuyết phục. Không những khẳng định "ghen tuông chỉ là thói thường của đàn bà", Hoạn Thư còn kể đến những việc mà tưởng như mụ đã "làm ơn" cho Thuý Kiều. Hoạn Thư đã đánh vào chỗ yếu của Thuý Kiều. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình.

Câu 4 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):
- Thúy Kiều tha cho Hoạn Thư bởi những lí lẽ mà mụ ta đưa ra đã thuyết phục được Kiều. Hơn nữa Kiều là một người con gái hiểu lí lẽ và có tấm lòng thương người.
- Kết cục đó có thể bất ngờ với người đọc nhưng lại rất hợp lí với lôgic của tác phẩm. Qua đó mới khẳng định được phẩm chất tốt đẹp của nàng Kiều.

Câu 5 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):
Qua đoạn trích có thể thấy Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đến ơn xứng đáng. Còn với Hoạn Thư, nàng kiên quyết trừng phạt. Nhưng trước thái độ khôn ngoan kêu ca "đến mực, phải lời", Kiều đã tha bổng. Nàng tha Hoạn Thư cho thấy Kiều là người không hẹp hòi, không nhỏ nhen, không cố chấp. Sự rộng lượng của nàng càng làm cho người ta, kể cả Hoạn Thư – kẻ thù, phải tâm phục, khẩu phục. Hoạn Thư là một người phụ nữ nham hiểm và hết mực khôn ngoan.
LUYỆN TẬP
Những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lí, nhất quán trong tính cách của Thúy Kiều và Hoạn Thư.
Thúy Kiều:
- Có yêu, có ghét rõ ràng, lúc thì rất ôn hòa, lúc lại rất cương quyết, cứng rắn: Có ơn thì trả có nợ thì báo
- Mọi hành động của Thúy Kiều đều dựa trên nguyên tắc đạo lý
Hoạn Thư: Trước sau Hoạn Thư đều là người khôn ngoan, mưu kế. Dù run sợ trước lời buộc tội của Kiều nhưng vẫn khôn khéo đưa ra được lời biện minh để thoát tội cho bản thân, lợi dụng lòng đồng cảm của Thúy Kiều.


Tác giả: Trọng Tâm     (4.0★- 14 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Soạn bài Chị em Thúy Kiều
Phân tích đoạn thơ: Thuý Kiều báo ân báo oán
Đóng vai Thúy Kiều kể lại cho mọi người nghe việc báo ân báo oán
Phân tích hình tượng nhân vật Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán
Soạn văn lớp 10 - Trao duyên trích Truyện Kiều
Từ khoá liên quan:

Soan bai Thuy Kieu bao an bao oan trich Truyen Kieu Nguyen Du

, soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán,
SOFT LIÊN QUAN
  • Sở Kiều

    Webgame ngôn tình hấp dẫn

    Sở Kiều là webgame được xây dựng từ bộ phim truyền hình cùng tên khá nổi tiếng với game thủ Việt. Với sự ra mắt của game online Sở Kiểu, nhà phát hành như muốn đưa người chơi vào một thế giới mở, hóa thân vào các nhân vậ ...

Tin Mới

  • Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa

    Xuyên suốt tác phẩm Bếp lửa là hình ảnh chiếc bếp lửa ấp iu, nồng đượm, thổi bùng lên những kí ức tuổi thơ cũng như nhen nhóm ước mơ khát khao của người cháu, và để giúp em hiểu hơn về ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh

  • Giới thiệu về bài thơ Bếp lửa

    Qua tài liệu văn mẫu giới thiệu về bài thơ Bếp lửa hôm nay, các em sẽ trau dồi thêm cho mình những hiểu biết sâu sắc hơn về tác giả Bằng Việt và những kiến thức về tác phẩm như xuất xứ, chủ đề, hoàn cảnh sáng tác cũng

  • Cảm nhận về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

    Tình bà cháu là thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng, vậy hãy cùng cảm nhận về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt để em hiểu hơn về thứ tình cảm giản dị nhưng vô cùng cao đẹp ấy, bên cạnh đó bồi đắp thêm cho

  • Soạn Văn lớp 12 - Bài Vợ chồng A Phủ

    Một trong số các tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài viết về đề tài miền núi Tây Bắc phải kể đến đó chính là Vợ chồng A Phủ, để hiểu biết thêm về tác giả Tô Hoài và nội dung chính của tác phẩm, mời các em học sinh theo dõi tài liệu Soạn văn lớp 12 về bài Vợ chồng A Phủ sau đây.


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá