Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Hai đứa trẻ là một trong số những truyện ngắn trữ tình đặc sắc nhất của Thạch Lam mang đậm chất nhân văn, chúng ta phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam để thấy được tấm lòng nhân ái, niềm thương cảm, xót xa của nhà văn trước những số phận con người nhỏ bé, nghèo nàn nơi phố huyện tù túng.

Mục Lục bài viết:
1. Bài mẫu số 1
2. Bài mẫu số 2
3. Bài mẫu số 3

Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

phan tich gia tri nhan dao trong truyen ngan hai dua tre cua thach lam

3 bài văn mẫu Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

 

Bài mẫu số 1: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Thạch Lam là một trong những cây bút chủ lực của nhóm "Tự lực văn đoàn". Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, phê bình...Nhưng lĩnh vực thành công nhất của ông là truyện ngắn.Trong những truyện ngắn có khuynh hướng hiện thực cuộc sống của Thạch Lam có thể nói "Hai đứa trẻ" là một tác phẩm thành công tiêu biểu.Truyện không có những tình tiết hấp dẫn, li kì, gây cấn chỉ xoay quanh sinh hoạt của người dân ở một phố huyện nghèo trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng qua đó Thạch Lam đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Đọc "Hai đứa trẻ" chúng ta thấy bao trùm lấy câu chuyện là cuộc sống xơ xác, tiêu điều của một phố huyện nghèo. Cuộc sống đó đã được tác giả miêu tả ở một thời điểm hết sức tiêu biểu-thời điểm ngày lụi tàn: "Trống thu không từng tiếng một vang lên", "phương Tây đỏ rực như lửa cháy", "những đám mây ánh hồng như những hòn than sắp tàn", "ngoài ruộng tiếng ếch nhái kêu rang vọng vào phố chợ..". Một khoảng không gian mênh mông của đồng ruộng vừa đẹp lại vừa buồn gợi ra trước mắt người đọc.

Trên nền của bức tranh ấy, cuộc sống của người những người dân phố huyện được Thạch Lam miêu tả hết sức đặc sắc: Khi trời nhá nhem tối, mẹ con chị Tí bày cái hàng nước ra dưới gốc cây bàng. Liên dọn dẹp của hiệu tạp hóa rồi cộng sổ tính tiền. Bà cụ Thi đến cửa hàng Liên mua một cút rượu, ngửa cổ uống sạch rồi biến đi lẫn vào trong bóng tối với tiếng cười khanh khách. Đám trẻ con tụ họp chơi đùa trên các thềm nhà. Bác Siêu dọn gánh hàng phở ra bên bếp lửa bập bùng. Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, trước cái thau trắng chờ có khách để hát kiếm tiền.

Qua ngòi bút chấm phá tinh tế của Thạch Lam chúng ta thấy cuộc sống ở phố huyện nghèo ấy hiện ra như một thế giới đang hấp hối, tàn lụi.

Trong bối cảnh ấy, hai chị em Liên và An cũng như những người dân phố huyện vừa náo nức vừa khắc khoải, mòn mỏi chờ đợi chuyến tàu từ Hà Nội về đi ngang qua phố huyện. Đêm nào cũng vậy, khi trời vừa bắt đầu tối thì hai chị em đã thấp thỏm chờ đợi chuyến tàu. Rồi chuyến tàu đến như hằng đêm nó vẫn thường đến với sức hấp dẫn kì lạ đối với hai chị em Liên - An cũng như người dân nghèo của phố huyện.

Tàu đến với tiếng còi và tiếng rầm rộ của bánh xe. Liên dắt em đứng lên để nhìn chuyến tàu vụt qua, chuyến tàu đầy sức hấp dẫn bởi nó tràn ngập ánh sáng. Ở những toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường. Những toa thuộc hạng sang trọng lố nhố người; đồng và kềnh lấp lánh. Cái nguồn sáng ấy vút qua, biến vào đêm tối để lại những đóm than nhỏ bay tung tóe trên mặt đường...

Chuyến tàu đêm ấy đã khơi gợi lên trong hồn Liên bao biến động. Đó là hoài niệm về Hà Nội thuở xa xăm. Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo. Đối với Liên, con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Thế giới ấy khác hẳn với thế giới mà Liên đang sống, khác hẳn với vầng sáng nhỏ nhoi của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bập bùng trong gáng hàng của bác Siêu...

Nhìn lại toàn bộ câu chuyện, người đọc không khỏi thắc mắc vì sao hằng đêm chị em Liên-An cứ mòn mỏi đợi chuyến tàu đi ngang qua phố huyện? Vì sao hình ảnh con tàu tràn ngập ánh sáng lại dấy lên trong tâm hồn Liên bao biến động? Bởi vì trong cuộc sống thường ngày ở phố huyện xơ xác, tiêu điều ấy, họ không thể tìm đâu ra niềm vui. Cuộc sống diễn ra chung quanh họ hết sức đơn điệu, nhạt nhẽo, vô vị...Chuyến tàu sáng rực đối với người dân phố huyện là hình ảnh của một thế giới khác hẳn, đối lập hoàn toàn với cái thế giới mà Liên và An đang sống - đó là thế giới của văn minh, niềm vui và hạnh phúc.

Từ đó mà ta cũng nắm bắt được vấn đề sâu sắc mà Thạch Lam gửi gắm vào truyện: Đó là khát vọng vươn ra thế giới văn minh, hạnh phúc của những con người nhỏ bé - giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Bên cạnh giá trị về mặt chủ đề, "Hai đứa trẻ" còn nổi bật lên những đặc sắc về nghệ thuật, thể hiện tập trung qua ngòi bút miêu tả của Thạch Lam trong việc tả người, tả cảnh cũng như miêu tả tâm trạng của con người. Gắn liền với nghệ thuật miêu tả là thủ pháp đối lập đã được nhà văn sử dụng hết sức thành công trong truyện. Trước hết là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, đối lập giữa tĩnh và động. Thủ pháp đối lập này đã góp phần đắc lực cho Thạch Lam trong việc làm nổi bật chủ đề tác phẩm.

"Hai đứa trẻ" là một truyện ngắn đặc sắc và rất tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam. Qua tác phẩm chúng ta thấy rõ tấm lòng nhân đạo của Thạch Lam đối với con người và nhất là những con người nhỏ bé trong xã hội. Chuyện đượm buồn nhưng đó là nỗi buồn cần thiết bởi nó có giá trị thanh lọc tâm hồn con người.

Sau khi đã tham khảo Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, kế tiếp các em có thể tìm hiểu Phân tích cảnh phố huyện ngày tàn trong phần đầu truyện ngắn Hai đứa trẻ hay Tóm tắt Hai đứa trẻ để kiểm tra xem em đã thực sự nắm chắc những chi tiết chính của bài văn này hay chưa.

 

Bài mẫu số 2: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

"Loại văn chương không đáng thờ là loại văn chương chỉ chuyên chú ở văn chương, loại văn chương đáng thờ là loại chuyên chú ở con người". (Nguyễn Văn Siêu). Đúng như vậy! Văn chương là món ăn tinh thần của nhân loại. Chính vì vậy, văn chương luôn phải phản ánh chính xác cuộc sống con người, luôn phải hướng về con người và đồng cảm với con người. Đó cũng chính là hai giá trị lớn của văn chương là hiện thực và nhân đạo. Trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, hai giá trị này lại được nâng cao vị trí của mình để phản ánh chính xác cuộc sống của con người. Một trong số những tác phẩm như vậy đó chính là tác phẩm "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam).

Đầu tiên, "Hai đứa trẻ" mang một giá trị hiện thực sâu sắc. Vậy giá trị hiện thực là gì? Giá trị hiện thực là phạm vi hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh. Một tác phẩm văn học nào cũng có giá trị hiện thực vì văn học bắt nguồn từ đời sống, bắt nguồn từ hiện thực đời sống sinh hoạt hàng ngày, bắt nguồn từ hiện thực, tình cảm, tâm lí... Trong tác phẩm văn học, giá trị hiện thực là sự phản ánh chân thực, sâu sắc cuộc sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay tinh thần của những con người bé nhỏ, bất hạnh; chỉ ra nguyên nhân gây đau khổ cho con người và miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người. Ở mỗi tác phẩm cụ thể, giá trị hiện thực được miêu tả đa dạng. Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" là một tác phẩm như thế.

Trước tiên, chất hiện thực thể hiện rất rõ ở bức tranh phố huyện nghèo nàn với những cảnh đời mòn mỏi, quẩn quanh và bế tắc. Bức tranh mở ra bằng âm thanh của tiếng trống thu không. Thứ âm thanh không vô tình và chất chứa cả nỗi niềm của con người. Tiếng trống vang xa gọi chiều về nhưng cũng gọi về cả một nỗi niềm xao xác. Tiếng trống thu không như một bức thông điệp báo hiệu chiều về là âm thanh của ngày tàn nơi phố huyện "từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều". Tiếng trống đời thực mà xa xăm như vọng về những chiều quê muôn thuở "Chiều, chiều rồi". Đó không phải là giọng của Thạch Lam mà là giọng của Liên, một tiếng kêu ngậm ngùi trước cảnh ngày tàn. Lại một buổi chiều nữa Liên phải chứng kiến cảnh vật thiên nhiên trong ánh mặt trời đang lụi tàn đỏ rực như lửa đang cháy khiến cho những đám mây ánh hồng lên như "hòn than sắp tàn". Tiếp đến là những lũy tre làng đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Đó là một buổi chiều (êm ả như ru) trong những âm thanh "văng vẳng râm ran của tiếng ếch nhái ngoài đổng ruộng" được ngọn gió nhẹ hoang vu mang vào phố huyện. Hòa vào đó là tiếng muỗi vo ve thật gợi buồn. Cảnh vật thiên nhiên trên phố huyện lúc chiều xuống càng trở nên ám ảnh khi "mùi âm ẩm bốc lên hòa vào hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi". Đối với hai chị em Liên đó là "mùi riêng của đất", của quê hương bình dị, quen thuộc. Đêm xuống âm thanh có vẻ mờ nhạt hơn đến nỗi Liên chỉ nghe thấy hoa bàng rụng xuống trên vai mình khe khẽ. Phố huyện giờ đây chìm ngập trong bóng tối dày đặc và mênh mông "Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng xầm đen hơn nữa". Cảnh vật thật đẹp nhưng buồn, thấm thía vào tâm hồn chúng ta. Chỉ bằng vài nét phác họa nhưng cũng để cho ta thấy có một nỗi buồn bâng khuâng, man mác, mơ hồ trong khung cảnh làng quê.

Trên cái nền của bức tranh thiên nhiên ấy, lần lượt hiện ra những mảnh đời thật tội nghiệp. Đó là hình ảnh của kiếp người lam lũ, tàn tạ, sống mòn mỏi, héo hắt trong mong đợi mơ hồ, xa xôi. Thạch Lam đã cho ta thấy cảnh sống nơi phố huyện: không ồn ào, to tát, chỉ bằng những mảnh đời nhỏ bé như những lát cắt của cuộc sống, nhà văn đã tái hiện chân thực cảnh sống quẩn quanh, nhàm tẻ nơi phố huyện nghèo. Giữa cái cảnh ngày tàn, chợ tàn hiện ra mấy đứa trẻ nghèo lom khom đi nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre giữa những "rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía". Bác Hồ đã từng nói:

"Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan".

Trẻ thơ là nơi khơi đầu của biết bao mơ mộng, tươi sáng cho tương lai. Thế nhưng lũ trẻ ở cái phố huyện này lại phải đi kiếm miếng ăn trang trải cuộc sống hàng ngày. Tuổi thơ của những đứa trẻ ở đây đã phải sớm giã từ. nhìn thấy cảnh ấy, Liên động lòng thương nhưng chính Liên cũng không có tiền để cho chúng nó.

Khi trời nhá nhem tối, khung cảnh phố huyện xuất hiện thêm mẹ con chị Tí với gánh hàng nước. Cảnh đó hiện lên qua đôi mắt của Liên - Một ánh mắt trẻ con: "Thằng cu bé xách cái điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra, mẹ nó theo sau, đội cái chõng trên đầu và tay không biết mang theo bao nhiêu đồ đạc, tất cả cái cửa hàng của chị". Cuộc sống của gia đình chị cũng thật vất vả. Ngày thì mò cua bắt tép, tối dọn hàng. Dẫu chẳng kiếm được là bao nhưng ngày nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm. Cả gia tài của chị cũng chỉ là một chõng hàng. Đây chính là một điển hình cho cuộc sống lay lắt ngoi ngóp giữa phố huyện. Đó chỉ là sự cầm chừng, sự tồn tại trong vô vọng, không phải là cuộc sống thực sự.

Tiếp đến là hình ảnh cụ Thi điên mang đến và mang theo một tiếng cười khanh khách nhỏ dần. Một cụ Thi điên cuộc đời không rõ ràng. Giọng nói, lời khen, cử chỉ xoa đầu... thật hiền. Nhưng cái cách ngửa cổ uống một hơi cạn sạch, cái dáng lảo đảo, điệu cười khanh khách rõ ràng đang ẩn chứa một nỗi lòng u uất cứ chìm dần vào trong bóng đêm... Phải chăng đó chính là sản phẩm của cuộc sống mòn mỏi, quẩn quanh. Người điên, người thì còn đó nhưng đời đã tàn quá nửa rồi! Thật đáng thương!

Đêm xuống, phố huyện có thêm gánh phở của bác Siêu. Gánh phở như hi vọng sẽ kiếm được chút gì để tồn tại, để cầm cự với sự sống. Bác Siêu xuất hiện với những chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm, mất đi rồi lại hiện ra. Trong đêm tối, bóng bác mênh mông ngả xuống đất và kéo dài đến tận hàng rào. Cuộc đời con người giống như cái bóng, cái bóng ấy cứ kéo dài mãi mà lại ẩn hiện để thấy được một kiếp người lam lũ, mờ nhạt và buồn tẻ của con người. Tưởng tằng cái món hàng này rất sáng sủa nhưng cũng rất ế ẩm bởi phở trở thành một món quà xa xỉ ở cái phố huyện này.

Cùng với đó là gia đình nhà bác Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, bám sát mặt đất trong bóng tối của đêm khuya. Ở cái phố huyện này, cơm còn đang chẳng có mà ăn huống chi đi nghe gẩy đàn bầu. Chính vì vậy, cuộc sống của họ gần với cuộc sống của loài bò sát hơn là cuộc sống của con người khi bác Xẩm sờ soạng trên manh chiếu rách và đứa con nghịch ngợm rác bẩn ngoài đất "góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong im lặng" hàm chứa sự đau đớn run rẩy tủi hờn của cái nghèo khổ hiu hắt.

Cuối cùng, nổi bật lên thật ấn tượng và ám ảnh nhất giữa những mảnh đời ấy là chị em Liên. Chiều tàn, Liên ngồi lặng bên quả thuốc sơn đen, cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, tối, muỗi, gian hàng bé thuê lại của bà lão móm, ngăn bằng tấm phên nứa, gián giấy nhật trình. Cha của hai em mất việc phải rời từ Hà Nội về quê kiếm sống nên hai em phải giúp mẹ bán hàng và trông coi gian hàng nhỏ xíu, nghèo nàn. Nhớ lại cuộc sống phong lưu giữa "một vùng sáng rực" của Hà Nội khiến hai em càng buồn hơn cho hiện tại. Thấp thoáng sau những người đó còn là bà Lực, cụ Chi, người mẹ tảo tần, người cha mất việc, bà lão móm,... những con người dân quê chỉ có tiền mua chịu nửa bánh xà phòng, chủ nhân của gian hàng có tấm phên nứa, gián giấy nhật trình, cảnh sống bần hàn hiện lên quaq từng đường nét với nhịp sống tẻ nhạt, buồn bã.

Chừng ấy mảnh đời, kiếp người đã làm sống dậy hiện thực xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, một xã hội sa sút, tiêu điều, trì trệ, một cái xã hội "mọc mốc". Đó là xã hội của những hình nhân biết cử động trong thiên truyện ý tưởng của Xuân Diệu: "Tỏa nhị Kiều". Họ thực sự là những con người sống một cuộc đời tẻ nhạt như những con tàu không đổi chuyến. Những kiếp người quẩn quanh đó đã đi vào trong thơ của Huy Cận:

"Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu

Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người

Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười

Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện ".

Không đi vào xung đột gay gắt, những số phận thê thảm như những nhà văn hiện thực, Thạch Lam đã lặng lẽ, góp nhặt những mảnh đời thường nhật, những nhịp sống quen nhàm, bình lặng những đốm sáng nhỏ bé, leo lét trong bóng tối tịch mịch để làm nên bức tranh hiện thực khó quên.

Bức tranh hiện thực có sức ám ảnh bởi lẽ Thạch Lam đã vẽ bằng bút pháp lãng mạn. Bút pháp giàu cảm xúc, yêu thiên nhiên, cái tôi tự ý thức, cảm nhận cái vô nghĩa của cuộc sống quanh mình. Trong bóng tối, hai chị em ngồi chõng ngắm sao, ngắm phố hướng về những nguồn sáng. Khi trời vào đêm, hai chị em ngước nhìn những vì sao. Mỗi đêm chúng sống một hiện thực đầy mộng tưởng. Hai đứa trẻ nghèo không có tài sản gì, trừ bóng tối và từ bóng tối ấy dấy lên những đốm lửa để soi rọi tâm hồn chúng. Ba lần hướng về ánh sáng cho đở buồn, lần thứ tư ánh sáng đoàn tàu mới là sựu mong mỏi của chị em Liên, để từ đó cháy lên niềm khát khao về một thế giới tươi sáng hơn. Đẹp mà lành, dịu mà xót, yên ả mà khuấy động, Thạch Lam có nói gì nhiều đâu, còn Liên và An hay ngững người dân phố huyện chỉ yên lặng lắng nghe và lặng nhìn. Vậy mà mỗi thời khắc đi qua đều đẻ lại những dư vị khó quên, xao xuyến như thịt da, sâu thẳm như tâm hồn, khẽ gợi trong ta bao niềm thổn thức.

Bên cạnh giá trị hiện thực đầy sâu sắc thì "Hai đứa trẻ" còn mang một giá trị nhân đạo sâu sắc. Vậy giá trị nhân đạo là gì? Giá trị nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người, là tình yêu thương giữa người với người. Một nhà văn chân chính là nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, phất cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng con người và bênh vực quyền sống cho con người. Trong tác phẩm văn học, giá trị nhân đạo là tình cảm, thái độ của chủ thể nhà văn đối với cuộc sống của con người được miêu tả trong tác phẩm thể hiện cụ thể ở lòng xót thương những con người bất hạnh, phê phán những thế lực hung ác áp bức, chà đạp con người, trân trọng những phẩm chất, khát vọng tốt đẹp của con người, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người... Đồng thời tư tưởng nhân đạo còn thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật, qua cảm hứng, cảm xúc, giọng điệu... Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nền văn học Việt Nam. Về cơ bản có những biểu hiện chung song ở mỗi thời kì, giai đoạn, do hoàn cảnh lịch sử, xã hội, do ý thức hệ tư tưởng của các nhà văn khác nhau nên có những biểu hiện riêng. "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam là tác phẩm điển hình thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.

Đầu tiên, "Hai đứa trẻ" thể hiện thái độ đồng cảm, xót thương với số phận bất hạnh trong xã hội cũ trước năm 1945. Qua khung cảnh phố huyện nghèo đói, lụi tàn, Thạch Lam muốn bày tỏ niềm xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ biết đến ánh sáng của hạnh phúc. Họ phải sống cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa, đời sống cạn kiệt, mòn mỏi cả về vật chất lẫn tinh thần. Chị Tí ngày nào cũng dọn hàng, cứ nhịp ấy dù chẳng bán được bao chị vẵn dọn hàng từ chập tối cho đến đêm. Bác Siêu thì đêm nào cũng bán phở và rất ế ẩm. Cụ Thi điên ngày nào cũng ghé qua hàng của Liên để mua rượu... Và đặc biệt là Liên - một cô bé mới lớn. Buổi chiều nào em cũng phải chứng kiến cái cảnh đượm buồn của ngày tàn, khi đêm đến thì lại chứng kiến cái "ao đời phẳng lặng". Tâm hồn của Liên vốn dĩ rất tinh tế, rất nhạy cảm nên em luôn cảm nhận được mọi thứ diễn ra xung quanh mình. Nhưng cứ sống mãi trong cái cảnh bình lặng này thì tâm hồn Liên sẽ dần bị chai sạn, sẽ dần bị đông cứng... Những người trong phố huyện này sống một cách rất tẻ nhạt, vô vị, họ như tồn tại theo chiều quay của kim đồng hồ vậy, cứ hết hôm nay lại đến ngày mai. Cuộc sống này đã được Xuân Diệu nói: "hết cơm mai rồi lại cơm chiều". Cuộc sống thì thiếu thốn đủ thứ cả về cái ăn, cái mặc,... đến cái tinh thần... Thạch Lam đã cảm thấy đau đớn, xót xa thay cho những cảnh đời sống một cách tẻ nhạt đến vô vị như vậy.

Thạch Lam trân trọng tình người, đồng cảm với những ước mơ, nguyện vọng chính đáng, ý thức cuộc sống hạnh phúc cá nhân của con người. Qua "Hai đứa trẻ", Thạch Lam muốn đánh thức, lay tỉnh những tâm hồn đang uể oải, lụi tàn ngọn lửa của lòng khát khao cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát được thoát ra khỏi cuộc sống tăm tối, tù đọng, mòn mỏi đang muốn chôn vùi họ. Sống giữa phố huyện nghèo và đầy bóng tối nên những người nơi phố huyện trong đó có chị em Liên vẫn luôn "mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho sự sống nghèo khopor hàng ngày". Đó chính là lí do khiến chị em Liên đêm đêmvẫn cố thức đợi chuyến tàu đêm đi qua. Chuyến tàu chỉ vụt qua nhưng đã mang đến cho họ một thế giới khác hẳn vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa trong gian hàng của bác Siêu. Bởi lẽ đó mà Liên "dù buồn ngủ díu cả mắt" vẫn cố thức, còn An "đã nằm xuống, mi mắt sắp sửa rơi xuống" vẫn không quên dặn chị "tàu đến chị đánh thức em dậy nhé". Đó là sự mong muốn được cải cách về tinh thần. Chúng cố thức đợi tàu không phải là vì mục đích bán hàng như lời mẹ dặn, bởi lẽ năm nay mùa màng kém, người buôn bán, người đi lại ít. Nếu có khách họ chỉ mua bao diêm hoặc phong thuốc lào là cùng, hai chị em thức chờ tàu xuất phát từ cuộc sống tinh thần.

Khi con tàu rầm rộ đến, Liên gọi em dậy. Mặc dù đang ngủ say, An vội bật dậy dụi mắt và tỉnh hẳn. Dù chỉ trong chốc lát nhưng hình ảnh "các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng" thì đọng lại mãi. Đứng ngắm lặng con tàu đi qua, Liên không trả lời câu hỏi của em, trong tâm hồn cô, cơn xúc động vẵn chưa lắng xuống: "Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo..." Cùng với con tàu hai chị em trở về quá khứ đẹp tươi, con tàu chạy từ Hà Nội, chạy tới từ tuổi thơ đã mất, con tàu chính là tia hồi quang về quá khứ. Cũng cùng với con tàu hai chị em còn được sống trong một thế giới mới tốt hơn, một thế giới sáng sủa và sôi động hơn rất nhiều lần so với cuộc sống hiện tại của chúng bây giờ.

Thạch Lam sống gắn bó và nặng lòng với tầng lớp thị dân nghèo, những kiếp người nhỏ bé sống quẩn quanh. Nên ông viết về họ với một niềm chân tâm, chân cảm, thấu hiểu tột cùng với muôn nỗi khốn khó trong cuộc sống của họ. Trước đây, văn học chú ý đến cái đói vật chất thì giờ đây văn học của ý thức cá nhân mới chạm đến được cái buồn chán cá nhân, tới nỗi đau riêng của mỗi con người. Cái nghèo là cái đói vật chất, cái buồn chán là cái đói tinh thần, âm ỉ, tê tái hơn. Nỗi đau tinh thần của con người nơi phố huyện được Thạch Lam miêu tả bằng một sắc thái nhẹ nhàng nhưng gieo vào lòng người được rất nhiều bận bịu. Ngòi but Thạch Lam tin yêu con người nên trong tác phẩm của ông dù nhân vật phải sống mòn mỏi, tù túng thì nhà văn vẫn dẫn dắt nhân vật hướng về phía ánh sáng của sự sống. Vì thế, "Hai đứa trẻ" mang âm hưởng lãng mạn bay bổng.

Để thể hiện rõ giá trị của văn bản thì nghệ thuật cũng là một phần quan trọng. Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" không có cốt truyện nó như một bài thơ. Thạch Lam chú trọng đi sâu vào nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh. Thạch Lam đã sử dụng thành công thủ pháp đối lập tương phản, đối giữa ánh sáng và bóng tối, giữa quá khứ và hiện thực. Điều đó sau những dòng chữ, ta lại thấy một tâm hồn Thạch Lam đôn hậu, tinh tế, nhạy cảm với mọi biến thái của lòng người.

Cùng yêu thương con người, tôn trọng con người nhưng Thạch Lam chưa chỉ ra con đường để nhân vật của mình đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui của cuộc đời mới. Họ nhìn đời, nhìn người bằng con mắt tình thương nhưng chưa gắn với tinh thần đấu tranh cách mạng, kết thúc truyện vẵn là chi tiết phố huyện trùm trong tĩnh mịch và bóng tối/

Nhà văn Nguyễn Tuân đã có một lời nhận xét rất độc đáo "Hai đứa trẻ" có một hương vị thật man mác. Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng đồng thời cũng gióng lên một cái gì còn ở trong tương lai. Nơi cái thế giới của một đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã trở thành thói quen của cảm xúc và ước vọng. Đọc "Hai đứa trẻ" thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín. Nói theo lời Nguyễn Tuân, ta có thể thêm: đọc tác phẩm của Thạch Lam, thấy bận bịu vô hạn về một ước mơ, một khát vọng tràn đầy tinh thần nhân văn, nhân bản từ hiện thực cuộc sống.

 

Bài mẫu số 3: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thạch Lam là một trong những cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Dẫu là viết về cuộc sống vất vả, cơ cực, bế tắc của người nông dân, người thị dân nghèo hay viết về những khía cạnh bình thường mà nên thơ của cuộc sống thì những trang văn của ông cũng chan chứa tình người.

Hai đứa trẻ là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, in ở tập Nắng trong vườn (1938).

Hai đứa trẻ của Thạch Lam có giá trị nhân đạo thật sâu sắc.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Giá trị nhân đạo thể hiện ở tình cảm xót thương của tác giả đối với những người sống ở phố huyện nghèo:

Ông xót xa trước cảnh nghèo đói của những con người nơi đây:

Những "đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ", "chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại".

Thương mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt tép; tối đến mới dọn hàng nước dưới gốc cây bàng. Cuộc sống của chị vất vả, mòn mỏi, quẩn quanh, leo lét như ngọn đèn của chị, ánh sáng chỉ đủ toả ra một vùng nhỏ mà thôi.

Thương bà cụ Thi xuất hiện với tiếng cười khanh khách, với dáng điệu đi lảo đảo, động tác uống rượu thì khác lạ "Cụ ngửa cổ ra đàng sau, uống một hơi cạn sạch".

Thương bác phở Siêu bán phở gánh. Thu nhập quá ít ỏi vì phở là món quà xa xỉ phẩm, hàng của bác thật ế ẩm.

Thương gia đình bác xẩm. Cuộc sống gia đình bác lay lắt như ngọn đèn trước gió. Gia tài của bác là chiếc đàn bầu và chiếc thau để xin tiền. Cuộc sống của bác bấp bênh. Cái đói, cái chết luôn kề cận.

Thương chị em Liên. Cuộc sống của chị em Liên cũng chẳng khá hơn cuộc sống của mọi người. Cửa hàng tạp hoá của chị em Liên "nhỏ xíu". Hàng hoá thì lèo tèo mà khách hàng là những người nghèo khó.

Ông cảm thương cho cuộc sống quẩn quanh, tẻ nhạt, tù túng của những con người nơi phố huyện nghèo.

2. Giá trị nhân đạo thể hiện ở sự phát hiện của Thạch Lam về những phẩm chất tốt đẹp của những người lao động nghèo nơi phố huyện.

Họ là những người cần cù, chịu thương, chịu khó: Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước dẫu chẳng bán được là bao. Hai chị em Liên thay mẹ trông coi gian hàng tạp hoá. Bác phở Siêu chịu khó bán phở gánh,...

Họ là những người giàu lòng thương yêu. Liên thương những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ người ta bỏ lại lúc chợ tàn.

3. Giá trị nhân đạo thể hiện ở sự trân trọng của nhà văn trước những ước mơ của người dân nghèo về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Ông trân trọng những hoài niệm, mơ ước của chị em Liên: Hai chị em mong ước được thấy ánh sáng của đoàn tàu, nhớ về quá khứ tươi đẹp khi gia đình còn sống ở Hà Nội. Đoàn tàu như đem đến cho hai chị em Liên "một chút thế giới khác".

Ông muốn thức tỉnh những con người ở phố huyện nghèo, hướng họ tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Giá trị nhân đạo được thể hiện thật sâu sắc trong tác phẩm: xót thương những con người nghèo khổ, phát hiện và miêu tả được những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, trân trọng những ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn của họ.

Cùng với những truyện ngắn khác của ông, Hai đứa trẻ đã góp phần thể hiện sự tài hoa, xuất sắc của Thạch Lam trong viết truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám 1945.

Ngoài nội dung trên các em có thể tham khảo thêm Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối được Thạch Lam miêu tả trong truyện ngắn Hai đứa trẻ và phát biểu cảm nhận của mình để nắm rõ hơn kỹ năng phân tích về các tác phẩm văn học.

Bên cạnh nội dung đã học, các em cần chuẩn bị trước nội dung phần Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù để nắm vững những kiến thức Ngữ Văn lớp 11 của mình.

Sau khi đã tìm hiểu xong nội dung trên, các em có thể đi vào phân tích cảnh cho chữ nhằm củng cố kiến thức của mình về nội dung tác phẩm Chữ người tử tù.

http://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-gia-tri-nhan-dao-trong-truyen-ngan-hai-dua-tre-cua-thach-lam-40298n.aspx

Tác giả: Phạm Nhất Vương     (4.0★- 4 đánh giá)  ĐG của bạn?

  

Bài viết liên quan

Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người ở phố huyện nghèo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
Phân tích cảnh phố huyện ngày tàn trong phần đầu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Phân tích tâm trạng cô bé Liên đêm đêm thức đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Lòng nhân ái của Thạch Lam qua truyện ngắn Hai đứa trẻ
Giới thiệu về Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ
Từ khoá liên quan:

Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

,

SOFT LIÊN QUAN

Tin Mới


 Mùa hè tới rồi muốn so sánh giá tìm điều hòa giá rẻ nhất thị trường hãy dùng TopGia để so sanh gia có nhiều mẫu dieu hoa để so sanh sanh, xem dieu hoagiá rẻ để so sánh giá